cách an sao tuần triệt

C. cách mạng. D. Mác - Lênin. Đáp án Học và làm theo Bác 2022 Bảng C - Tuần 1. Câu 1. Trong “Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói” (6/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phải biết giáo dục, lãnh đạo, nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm”. Hãy chọn đáp Quét lớp mỏng bột mì men theo đường ria mép, đặt lớp wax phủ nhẹ lên trên, chờ khoảng 10 khi khô hẳn hãy giật ngược chiều một cách nhanh, lẹ gọn. Cuối cùng, bạn xịt nước hoa hồng dưỡng ẩm, làm mềm mịn vùng da vừa tẩy bỏ. 5. Triệt lông mép đúng cách chỉ với Thiên Phủ tam hợp với Thiên Tướng. Sao Thái Dương nhị hợp với Thiên Phủ. Vì vậy chỉ cần có vị trí của một Chính Tinh sẽ luận được vị trí 14 chính tinh. Tuần Triệt : Tuần Trung Không Vong và Triệt Lộ Không Vong. Các sao an theo Thiên Can : - Hóa khí của Tứ Hóa. - Khôi Việt. Trữ quân. 27 ngôn ngữ. Thêm. Vị trữ quân cuối cùng của lịch sử Việt Nam - Nguyễn Phúc Bảo Long. Trữ quân ( chữ Hán: 儲君), hay còn được gọi là Tự quân (嗣君) [1] [2], Trữ nhị (儲貳) [3], Trữ vị (儲位) [4] [5], Trữ tự (储嗣) hoặc Quốc bổn (國本) [6] [7], là cách gọi Đáp án Học và làm theo lời Bác 2022 - Bảng C (Tuần 2) giúp các bạn tham khảo gợi ý đáp án 30 câu hỏi, để nhanh chóng trả lời toàn bộ câu hỏi trong Cuộc thi “Tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2022. Sites De Rencontres Africains Et Europeens. Bài viết Nguyên lý Tuần – Triệt của tác giả Kim Ca. Mời các bạn đọc tham khảo. + Tuần Trung Không vong Tuần được an theo Lục Giáp, ví dụ sinh năm Giáp Tý, đếm theo chiều thuận thì Giáp Tý, Ất sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân Quý Dậu là hết 10 thiên Can, thì Tuần an ở Tuất Hợi, Tuất Hợi chính là Tuần Trung Không Vong, cho nên Tuần là nơi chỉ có Địa mà không có Thiên, cho nên Tuần ở đó là “Thời Can đã hết chỉ còn Địa”, mà cái lý đơn giản có Thiên thì Địa mới hoá thành Nhân, nay chỉ có Địa không có Thiên thì hẳn Nhân nào tồn tại và được sinh, cho nên Tuần đóng đó biểu thị cái “hư vô”, mọi thứ ở trong Cung mờ ảo, không thực, các Sao trong Cung bị giảm tác dụng mạnh, tốt gì giảm tốt, xấu thì giảm xấu, các sao trong Cung ấy khó mà hoạt động bình thường được do “Thiên Địa không hợp nhất”. vì vậy Tuần có ý nghĩa như là sự cô lập, hư không, kềm toả. cho nên Tử vi sợ gặp Tuần, có khác nào Vua bị kiềm tỏa, quyền danh rơi vào hư không, không có thực quyền cũng giống như bị quản thúc vậy. Tuần không có sự chia cắt như Triệt, cho nên Tam hợp, xung chiếu gặp Tuần vẫn hình thành nên được Cách Cục, nhưng do bản Cung bị Tuần nên các sao trong Cung mất hiệu lực, thành ra Cách Cục bị ảnh hưởng mạnh mẽ. + Triệt Lộ Không vong cách thức an Triệt lộ dựa trên cơ chế của Số Thái Huyền, muốn nắm được số Thái Huyền thì phải học cao hơn về Dịch lý cho nên tôi rất muốn đưa ra ở đây nhưng ngại vì các học viên khó nắm bắt cho nên chỉ nói về tính chất của nó. Triệt có tác dụng ngăn chặn qua câu “hung sát tinh nhất Triệt nhi khả bằng”. điều đó cho thấy Triệt có tính ngăn chặn, cắt đứt, nhanh chóng, cho nên các cung chức bị chia cắt bởi Triệt, Cách Cục trong tam hợp, xung chiếu gặp Triệt bị chặn lại. Đồng thời chia cắt các sao trong Cung ấy theo sự ngăn chặn, cắt đắt và nhanh chóng, cho nên Tướng Quân, Thiên Tướng, Thiên mã, Quốc Ấn…sợ gặp Triệt chủ về bô ba lao khổ, thiếu định hướng, làm việc khó thành. Tử vi gặp Triệt thì lại không đáng ngại như gặp Tuần bởi gặp Triệt thì tuy bị chia cắt với Quần Thần nhưng vẫn có thực quyền, chỉ là quyền lực bị hạn chế, nếu các sao trong Cung có Triệt như Tả Hữu. + Thứ 1 là phải xác định ngay là Tuần Triệt chỉ ảnh hưởng nên các Cung nó đóng, không có hiệu lực trong tam hợp hay xung chiếu nhưng vì các sao có sự liên kết với nhau thành nhóm, như Tử Liêm Vũ, Sát Phá tham, Thái Âm Thiên lương tam hợp, Thiên Cơ Thiên Đồng tam hợp, Phủ Tướng tam hợp…cho nên khi Tuần Triệt đóng tại 1 cung, như đóng tại cung có sao Tử vi, thì nhất định Vũ Khúc và Liêm trinh sẽ bị ảnh hưởng theo, đó là nguyên lý tam hợp chứ không phải là Tuần Triệt đóng tại 1 Cung rồi tam hợp của nó cũng bị Tuần Triệt ảnh hưởng, điều đó không phải, ảnh hưởng là do tuần triệt tác động lên nhóm sao. Ta có thể hình dung, 1 đội bóng có 11 người nhóm sao, nhưng 1 người bị sa sút phong độ mạnh do chấn thương 1 sao ở cung bị tuần triệt kéo theo trận đó đội bóng bị thua, thì Tuần triệt cũng tương như vậy. Tuần Triệt tác dụng mạnh lên các sao chung xung chiếu khi sao cung nó đóng và sao cung xung chiếu tạo thành cặp Âm Dương, như Tướng Quân và Phục Binh luôn xung chiếu, Thất Sát và Thiên Phủ thì Tuần Triệt đóng vào cung Tướng Quân nó sẽ ảnh hưởng lên cả Phục binh, còn nếu các sao không có tính xung chiếu thì không ảnh hưởng nhiều. từ đó sẽ hiểu được cách vận hành của Tuần Triệt cung VCD mượn chính tinh cung đối an cung, thì khi bị Tuần Triệt nó sẽ làm gián đoạn cái sự mượn sao an cung này, khi đó cung VCD không mượn được và trở thành “vô khí”, nếu mệnh đóng cung VCD mà không có cứu giải rất dễ yểu. Triệt khác Tuần ở chổ Tuần chủ về hư không, làm các sao trong cung nó đóng mất đi lực tác dụng, làm mọi thứ trong cung như ngừng lại, vô lực cho nên Tử vi sợ nhất Tuần giống như Vua không còn lực gì, bị giam cầm và mất đi quyền hành vậy. ngược lại triệt thì có tính chất gián đoạn, chia rẽ cho nên có câu “hung sát tinh nhất triệt nhi khả bằng” nói về sự chia cắt của Triệt làm cho Sát tinh không còn liên kết với nhau thành cách cục nguy hiểm, giống như một nhóm tội phạm hung sát tinh tụ hợp mà bị công an triệt chia cắt, vây băt thì chúng mất đi hiệu lực và không thể liên kết thành băng đảng nguy hiểm. nhưng các sao trong Cung Triệt đóng vẫn có lực, giống Tử vi vua bị chia cắt với Quần Thần nhưng nó vẫn có lực, chứ không mất lực nên nó vẫn có quyền của Vua. Xét câu “Tuần Triệt đương đầu thiếu niên tân khổ”. Thiếu niên ở đây là chỉ lúc tuổi còn trẻ, ít tuổi. Chứ không phải dùng để phân biệt thiếu nhi, thiếu niên hay thanh niên. Mệnh có Tuần triệt thì tối đa số năm Đại vận chịu ảnh hưởng của Tuần Triệt là 26t, tương ứng với Hỏa lục Cục và Đại vận ở Huynh đệ hay Phụ Mẫu. Tuần Triệt là Không vong, nó ở Mệnh sẽ ngăn cách sự thông khí của Mệnh Tài quan, làm các Sao trong Cung “mất tác dụng”, sao tốt thì giảm tốt, sao xấu thì giảm xấu…cả tốt hay xấu đề bị suy giảm hoạt động đáng kể. Sở dĩ nó mất tác dụng vì các Sao bị rơi vào Hư Không, không còn môi trường cho chúng hoạt động và ngăn cản sự liên kết với Sao khác thành Cách Cục. Do vậy Tuần Triệt ở mệnh thì tuổi Thiếu niên vất vả, học hành lận đận, đường công danh thăng trầm…qua vận Tuần Triệt tức tối đa qua năm 26t thì sẽ khá hơn do Đại vận lúc này không còn Tuần Triệt nên được tự do hoạt động. và lúc đó sau một thời gian dài vất vả lận đận thì con người bắt đầu biết cách thích nghi và vươn lên. Cho dù Tuần Triệt có phân Âm Dương thì Tuần Triệt sao có thể phá nhau được, có câu “Tuần Triệt đương đầu thiếu niên tân khổ”, nó đâu có kiềm chế nhau đau, mà cộng hưởng vào nhau làm mạnh hơn. Tuần Triệt đóng cung mệnh thì bị ảnh hưởng cả Tuần lẫn Triệt, thường thì đại vận đầu đời và đại vận thứ 2 nếu Tuần Triệt có đóng ở đại vận 2 nên có nhiều khổ sở, thất bại trong học tập, hoặc đời sống…cung Mệnh chủ vật chất nên thường khó tụ được tiền bạc, dễ tụ tán tiền thất thường không ổn định, nhưng được cái Tuần Triệt cũng giúp con người thông tỏ, hiểu nhanh, học hanh, sáng suốt….nhưng chỉ ở khía cạnh lý thuyết còn vận dụng kiếm tiền hay mưu cầu danh lợi thì khó khăn vì Mệnh không chế được Tài Quan trong thế Tam hợp. nếu có cách cục hợp lý thì sẽ phát về con đường nghiên cứu, tư duy sáng tạo. Có nhiều thứ để nói về Tuần Triệt quan trọng là tùy cách cục mới nói được tốt xấu thế nào. Sát Phá Tham bị Tuần triệt thì tính là phá nặng hơn, Sát Phá Tham là bộ sao mang tính Động nhất trong hệ chính tinh nên nếu nó ở hãm địa thì khá xấu chủ về bôn ba, lao lâm lao lực, ở đây nếu có Tuần triệt án ngữ thì cũng giảm bớt cái tính “động” mà nó gây ra, cũng giảm đi về sự bôn ba lao lực, nhưng nếu Sát Phá tham ở trong thế Đắc địa thì Tuần Triệt lại làm cho nó xấu đi. Tuần Triệt đóng cung mệnh thì bị ảnh hưởng cả Tuần lẫn Triệt, thường thì đại vận đầu đời và đại vận thứ 2 nếu Tuần Triệt có đóng ở đại vận 2 nên có nhiều khổ sở, thất bại trong học tập, hoặc đời sống…cung Mệnh chủ vật chất nên thường khó tụ được tiền bạc, dễ tụ tán tiền thất thường không ổn định, nhưng được cái Tuần Triệt cũng giúp con người thông tỏ, hiểu nhanh, học hanh, sáng suốt….nhưng chỉ ở khía cạnh lý thuyết còn vận dụng kiếm tiền hay mưu cầu danh lợi thì khó khăn vì Mệnh không chế được Tài Quan trong thế Tam hợp. nếu có cách cục hợp lý thì sẽ phát về con đường nghiên cứu, tư duy sáng tạo. Có nhiều thứ để nói về Tuần Triệt quan trọng là tùy cách cục mới nói được tốt xấu thế nào. Tuần Triệt có ngũ hành không? làm sao để có thể nói Triệt ảnh hưởng sao 30 tuổi? không có bất kỳ 1 sách vở cổ học Tử vi nào nói như vậy, các sách Tử vi nổi tiếng của Trung hoa đại lục, Hongkong và Đài loan đều không có nói đến điều này, điều đó chứng tỏ việc phân 30 tuổi cho Tuần Triệt giảm hay tăng ảnh hưởng chỉ là thuyết được “sáng” tác mà thôi. cũng giống như việc phân định trước 30 tuổi xem mệnh, sau 30 tuổi xem Thân là do những người học Tử vi ở VN sáng tạo ra chứ hoàn toàn không hề có thật. bởi vì Mệnh Thân không có kiểu xem như vậy. việc phân loại ngũ hành cho Tuần Triệt cũng chẳng hề có sách vở cổ nào ghi chép điều này, mà là người ta tự sáng tác ra. mà chỉ có vài câu như sau Kim phùng Không tắc minh Hỏa phùng Không tắc phát …………………… nhưng người đời sau nghiệm thấy chẳng có ý nghĩa gì trong luận đoán. việc nói Triệt sau 30 tuổi giảm tác dụng rồi nói Triệt Âm là không phải. tất nhiên thì mấy ông như vuivui cũng có lý luận riêng của ông ấy nhưng tùy có theo hay không mà thôi. nếu bây giờ tôi lấy Triệt tác dụng nhanh chóng, mạnh mẽ nên là Dương, Tuần tác dụng từ từ lâu dài nên là Âm thì làm sao? cho nên lý thuyết là 1 chuyện, thực tế hay không lại là chuyện khác. Tuần Triệt tác dụng mạnh ở giai đoạn nào? hầu như ít ai nghiệm lý được Tuần Triệt mạnh ở giai đoạn nào, mà người ta chỉ nói ở dạng lý thuyết chứ thực tế nghiệm lý không nắm bắt được. cho nên thuyết nói triệt tuần tác dụng mạnh ở giai đoạn nào đó là phải hồ nghi, đừng tin vội. Triệt nhanh chóng, cắt đứt, gián đoạn thể hiện qua việc Mã Triệt hay Tướng Triệt được nói đến là xấu hơn Mã Tuần hay Tướng Tuần. hay câu “tam phương hung sát nhất triệt nhi khả bằng”, ý là tam phương tứ chính hung sát tinh tụ hội thì bản cung có Triệt ngăn chặn tốt. Tuần Triệt có tác dụng theo cơ chế khác nhau, đã viết cả trong chủ đề này rồi, Tuần tác dụng là cho Các Sao mất đi hiệu lực. Đừng quan tâm quá đến Tuần Triệt, bởi 1 lá số 12 cung thì nhiều nhất là 4 cung bị Tuần Triệt, nó không có tác dụng ghê gớm gì cả, còn có ý nghĩa tốt là khác. quan trọng là phải biết khi nào Tuần Triệt tốt xấu. xét theo tuổi tác thì người tuổi Dương Tuần Triệt ở cung Dương tác dụng mạnh, cung Âm tác dụng yếu có thể bỏ qua cung Âm luôn. còn tuổi Âm thì Tuần Triệt ở cung Âm tác dụng mạnh, ở cung Dương tác dụng yếu có thể qua. đây là do Âm Dương cộng hưởng. + Tuần Triệt tác dụng rất mạnh lên Cung giáp, ta có thể hiểu như một quả bóng hơi mà bỏ vào nước, thì áp lực lên quả bóng là lớn hơn khi để ở ngoài không khí. ví dụ Triệt ở Thìn Tỵ thì 2 Cung Thìn và Tỵ ảnh hưởng với nhau rất mạnh, còn Mão và Ngọ ở Thế giáp thì bị ảnh hưởng ít hơn, ở đây nếu có Khoa Quyền Lộc giáp thì lại rất tốt, chủ về ảnh hưởng của tam hóa lên bản Cung mạnh mẽ. Tuần Triệt Ngọ Mùi Tý Sửu thì làm cho 2 Cung ảnh hưởng mạnh đến mức gần như thông nhau, cho nên khi Tuần Triệt đóng ở Ngọ Mùi hoặc Tý Sửu thì nhất định phải xem Cung nhị hợp. bởi vừa hợp vừa Giáp thì cái thế của nó mạnh mẽ. Đối với người tuổi Dương thì trên toàn bộ lá số các cung Dương bị ảnh hưởng mạnh, các cung Âm ít bị ảnh hưởng nên xem nhẹ, có thể bỏ qua. Trung Châu Phái cho rằng có thể bỏ qua không xem, nhưng ở đây ta vẫn nên chú ý đến nó. nhất là với những trường hợp như Tướng Tuần Triệt, Mã Tuần Triệt. Lộc Phủ Tuần Triệt…hay Thái Dương Thái Âm Tuần Triệt, đều là những cách nhạy cảm với Tuần Triệt nên vẫn bị ảnh hưởng ít nhiều. Tuổi Dương không ảnh hưởng nhiều về tuần triệt ở cung Âm vì đó là do tác dụng của Âm Dương tương hợp, còn với cung Dương thì có sự cộng hưởng làm cho tác dụng mạnh hơn hẳn. Điều này có thể hiểu giống 1 đoàn người đi cùng trên 1 cây cầu sẽ có cộng hưởng độ rung làm cho cây cầu dễ bị sập. Với cung Nhị hợp Tý Sửu, Ngọ Mùi thì Tuần Triệt có tác dụng mạnh, vì nó là cung vừa nhị hợp vừa là cung Giáp, mà Tuần Triệt làm tăng ảnh hưởng ở cung Giáp. do vậy Tuần Triệt ở cung Tý với tuổi Âm không có tác dụng nhiều nhưng cung Tý lại bị ảnh hưởng của cung Sửu mạnh. Đây gọi là THÔNG KHÍ. Cung VCD phải xem có hung tinh đắc địa hay không nữa, nếu không có hung tinh thì xem như YẾM KHÍ, và nếu cung đối cũng bị Tuần hay Triệt thì cung VCD trở nên VÔ KHÍ, vì Tuần Triệt ngăn chặn các cung với nhau. khi đó cung vô khí sẽ rất xấu, nếu không có cách cục như Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu hay Phủ Tướng triều viên thì khó mà sống thọ hay khá được. khi cung VCD có Tuần Triệt thì lại vừa VÔ KHÍ và lại bị thêm KHÔNG nữa thì cộng hưởng lại sẽ dẫn đến cùng cực tất phản biến của Dịch, khi đó bản cung VCD sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh của cung Giáp, nếu 2 cung Giáp có Quyền lộc hay các sao đôi cát tinh tiếp giáp như Tả Hữu Xương khúc…thì lại tốt ra. Nhật Nguyệt như là cha mẹ, bề trên, quý nhân…khi chiếu vào mệnh thì dễ được che chở, bao bọc nên tốt cho mệnh VCD, ngoài ra Nhật Nguyệt chủ về sự ổn định, mà lại có sự thông minh, sáng suốt nhạy bén nên được tốt vì sự thông minh. nhưng sự thành công đường đời thì chưa chắc vì có nhiều yếu tố quyết định không phải chỉ mỗi thông minh. chính sự ổn định của Nhật nguyệt cần cho mệnh VCD, vì VCD người ta hay so sánh với nhà không nóc, là người không bền, dễ chán, hay thay đổi, dễ bôn ba, vất vả…ngoài ra thì mệnh VCD do không chủ tinh nên thu hút được ảnh hưởng của Nhật nguyệt nhiều hơn, giống như ánh sáng chiếu vào hư vô, giống trong 1 không gian trống trãi, tĩnh lặng thì con người trở nên đĩnh ngộ, thông minh. Tác giả Kim Ca – Lê Thanh Cần — Tham khảo thêm TUẦN TRIỆT VÀ CUNG MỆNH Theo quan điểm của Kim Ca thì Tử vi quả là một môn rất rất khó học, bởi vì suy cho cùng nguồn gốc của Tử vi là không rõ ràng, đã thế lại chia thành nhiều bè phái. Sách vở thì ngày càng nhiều, cao thủ thì ngày càng đông. Người không biết thì cố tỏ ra tinh thông hiểu biết, người biết thì thò thò thụt thụt cắt xén dấu đi cho con em đệ tử, thành thử hậu học không hiểu cái lý rõ ràng nên quy Tử vi là tà Đạo. Để làm sáng tỏ thêm một số vấn đề, hy vọng giúp một số người hiểu thêm và có niềm tin vào Tử vi. Nhân tiện đọc bài của anh thatsat thấy đề cập đến Tuần Triệt nhưng quá ngắn gọn và người đọc sẽ khó hình dung ra được. Kim Ca sẽ nói đến một yếu tố quan trọng của Tuần Triệt ở Cung Mệnh. Đầu tiên là mệnh VCD và sau đó là mệnh có Chính Diệu. Bởi xét cho cùng thì người mệnh VCD là quan tâm hơn cả vấn đề này. Bởi có câu mệnh VCD không yểu cũng bần Mệnh VCD đã được nhiều nhà Tử vi nghiên cứu và nghiệm lý, có người thì nói là nhà không nóc, nhưng có lẽ ít ai hiểu được bản chất thật sự của nó là như thế nào. Đầu tiên nói đến lý thuyết kinh điển về Chủ Khách, lấy Cung Mệnh làm Chủ, Tam phương Tứ chính làm Khách, mệnh Chủ cường hơn Khách thì thuận lợi, ngược lại mệnh Chủ nhược khách cường là gian nan. Khi mệnh VCD thì thiên di luôn có chính diệu, điều dễ dàng nhận thấy là Chủ nhược và Khách cường, khi Chủ nhược thì khả năng chống đỡ Sát Khí từ Tam Phương Tứ chính là kém đi rất nhiều, đó là yếu tố gây nên tai họa cho Mệnh VCD, hãy lấy ví dụ Một người khỏe mạnh, cường tráng Chủ cường thì không sợ phong ba bão gió của xã hội Khách , đi ngoài đường gặp cơn gió thấy cảm giác mát mẻ dễ chịu, khác với một người ốm yếu Chủ yếu vì sự biến động của xã hội thường cảm thấy mệt mỏi, đi ngoài đường gặp cơn gió bị cảm mạo, sinh bệnh chết Khách mạnh hơn Chủ , cho nên nói mệnh VCD dễ yểu bởi vì Sát Khí từ Khách xung phá Mệnh quá nhiều. Đó là yếu tố quyết định có yểu hay không, nếu mệnh VCD mà Tam phương Tứ chính cát tinh hột tụ không bị sát tinh xâm phạm thì ta xét đến Cung Mệnh làm Chủ và Cung Đại vận làm Khách, ta lại dễ dàng nhận thấy nếu Tam phương Tứ chính cung Mệnh không có Sát tinh thì tất yếu sẽ hội tụ sát tinh ở Đại vận, Chủ Nhược Khách Cường và lại vẫn bị Sát Khí xâm phạm mạnh mẽ, nên dễ yểu khi vận đi qua Cung sát tinh hội tụ được Hóa Kỵ dẫn động. Đó là nói đến cái yểu của người mệnh VCD, bây giờ xét đến cái bần của người VCD. Mệnh VCD Chủ nhược Khách cường thì Mệnh sẽ không làm Chủ được Tài Quan, dẫn đến bị động trong hoàn cảnh, gặp một vấn đề dù biết bản chất của nó là gì, nhưng không biết phải giải quyết thế nào, kinh doanh thì không hoạch tài, làm quan thì dễ bị chèn ép, ý chí thì kém, lại hay thay đổi cũng bởi Chủ nhược. Tất nhiên sẽ có người lý luận tôi không yểu cũng chả bần, nhưng ở đây yểu và bần là xét trung bình cho người mệnh VCD trong xã hội. Qua những vấn đề được nói ở trên thì rõ ràng mệnh VCD cần Tuần Triệt để ngăn chặn Sát khí từ các cung Khách để tăng thọ, Đối với giàu hay nghèo thì lại phải xem những yếu tố khác nữa. bởi có câu mệnh VCD hội tam không phú quý khả kỳ. Nhưng với Tuần Triệt đã giúp cho bản cung được vững vàng hơn qua việc đánh chặn nguy hại từ bên ngoài. Đặc biệt mệnh VCD quan trọng xét Tứ hóa, và Chủ khách xem có được cát hay không, Khách đa cát tinh hội tụ và Tam hóa thì vẫn có thuận lợi. vì sao mệnh VCD cần hung tinh đắc địa kình, đà, hỏa, linh, không, kiếp, hình, hổ là bởi vì Hung tinh đắc địa có thể lấy lại sự cân bằng giữa Chủ và Khách. Cát tinh hay hao bại tinh quá yếu không đủ lực. Nhưng mệnh VCD có Tuần khác với mệnh VCD có triệt, điều này sẽ được nói ở phần sau. Bây giờ ta xét đến người Mệnh có Chính Diệu. Một điều hiển nhiên đó là không có một Chính tinh nào đứng riêng lẽ với nhau, và thay vào đó là đi theo một tổ hợp. Ta lấy Ví dụ người có mệnh Tử vi. Tử vi luôn tam hợp với Liêm Trinh và Vũ khúc. Theo lý thì Liêm Trinh hỏa ==> Tử vi Thổ ==> Vũ khúc Kim. Đó là sự lý sinh của Ngũ hành, Liêm trinh là Nguyên thần của Tử vi, khi Tử vi bị Tuần Triệt vì Nguyên thần Liêm trinh không sinh trợ được Tử vi, Tử vi hỏa tương thông mà sinh được Vũ khúc Kim, đẫn đến Khí Thổ ứ đọng, bế tắc. Vì vậy mệnh Tử vi Tuần Triệt là kém theo lý ngũ hành. Nhưng Tử vi gặp Tuần thì đỡ hơn gặp Triệt, bởi cái lý Âm Dương. theo Tượng thì ví Tử vi như là vua, Liêm Trinh và Vũ khúc là cận thần, Tử vi gặp Tuần Triệt được ví như Vua bị cô lập, không được trợ giúp của Quần thần, giống vua bù nhìn. lẽ dĩ nhiên là kém. Tuần là được hiểu là Thời Thiên chưa tới, nơi có Địa mà không có Thiên, thiên chưa tới thì sao Địa hóa thành. Cho nên gọi là Không vong. Cũng vì có Địa mà không có Thiên nên Tuần bản chất mang tính Âm. Đối nghịch với Triệt mang tính Dương, điều dễ thấy là nhiều người luận Triệt là chặt chém, Tướng Triệt là tướng mất đầu, Mã triệt là Mã què, âu cũng là do tính Dương của Triệt. Tử vi Dương ngại gặp Tuần hơn Triệt. Tuần tác dụng mạnh lên Tứ hóa, vòng lộc tồn, xét theo Toàn không cách thì Tuần đắc cách hơn là Triệt. Triệt tác dụng mạnh lên sao an theo giờ, ngày, tháng và vòng Thái Tuế. Tuần chế Địa kiếp mạnh hơn Triệt, ngược lại Triệt chế Địa không mạnh hơn Tuần. Tuần chế địa kiếp và Triệt chế Địa không kém hơn vì cái lý cộng hưởng. và cũng bởi cái lý Địa không mang tính Âm, Địa kiếp mang tính Dương. Cụ Thiên Lương cho rằng, Tuần Triệt hóa giải nhau ở Đại vận, tức là mệnh Tuần đến vận gặp Triệt thì sẽ được hóa giải. Điều này là có lý của Cụ. Xét Tuần Âm và Triệt Dương, thì Tuần Triệt sẽ kìm chế nhau ở Vận, do đó khả năng của Tuần Triệt ở Đại vận đã giảm đi nhiều. Nhưng không phải là sẽ mất đi Tuần Triệt, giống như Không Kiếp gặp nhau ở Tứ góc thành Âm Dương hợp nhất mà đắc địa, đắc địa thì ít hại hơn là hãm. Lý Xuất Không Điền Thật. Tuần Triệt được hiểu là Thời chưa tới, khi có Lưu Thái Tuế đến thì đó chính là Thời tới, mà thời tới thì Không Vong sẽ không còn, thời tới khi Lưu Thái tuế xung cung Tuần Triệt hoặc ở ngay cung có Tuần Triệt. Xuất không được hiểu là Không vong đã mất, nếu mệnh có Tuần Triệt thì Lưu Thái Tuế đến mệnh hoặc ở Di xung mệnh, khi Không vong đã mất thì những gì còn lại ở Cung mệnh chính là bản chất thực sự vốn có của nó, như tổ hợp sao phá hay hợp cách…từ đó sẽ thấy được sự thật giả về giàu nghèo, thọ yểu… Điền Thật . Do vậy đối với mệnh VCD rất cần chú ý đến vận có Lưu thái tuế xung mệnh, vì khi đó đã mất Không vong, nếu hạn nhập năm đó cũng bị kỵ xung thì quyết là năm đại họa. Đối với người có Chính diệu mà tổ hợp sao đi hợp cách và tốt thì năm đó là năm thăng tiến tài lộc. Lý giải thêm về Thiên tướng sợ gặp Tuần Triệt, Thiên tướng và Phá quân luôn ở thế Đối Xung không phải Đối Cung . Tương và Phá kìm hãm lẫn nhau, lực tương tác của Phá lên Tướng ngang bằng với lực của Tướng lên Phá. Nhưng khi có Tuần Triệt thì điều đó đã bị phá vỡ, đầu tiên phải nói đến Phùng Phủ khán Tướng, xem Thiên Tướng phải xét đến thiên Phủ, khi Thiên tướng bị Tuần Triệt thì Phủ không thể giúp được Tướng. Đó là đặt Tướng vào thế yếu khi so sánh với Phá, do vậy cấu trúc Đối xung bị phá vỡ, đặt Thiên tướng vào thế yếu. Lại xét phân đối cung lưu chi thể dụngng , nguời mệnh Thiên tướng thì lấy Thiên Tướng làm Thể, Phá Quân làm Dụng, Tướng ở thế yếu thì Thể bị Dụng khắc theo lý đối xung, vì vậy mà nói Thiên tướng sợ gặp Tuần Triệt, vì lý Thiên tướng mang tính Âm nên sợ gặp Triệt hơn Tuần. Có lẽ vậy mà Tướng Triệt là tướng mất đầu chăng? lẽ Triệt chặt chém âu cũng rất có lý tính Dương Mệnh VCD bản chất Tán, cho nên thông minh, có tính sáng tạo, và dễ thay đổi trong cách suy nghỉ. Nhưng từ những sáng tạo, thông minh đó lập kế hoạch và bắt tay thực hiện thì lại là Tụ. Từ tính sáng tạo đến khi hoàn thành cái sáng tạo ra là rất xa. Cho nên người mệnh VCD tuy là biết nhưng cái biết đó khó làm được ngoài cuộc sống thực. Đó cũng là bản chất Tán Tụ. Một người VCD có ý tưởng kinh doanh nhưng khó thực hiện đuợc bởi tính tổ chức, kế hoạch rất kém. hơn nữa ý tưởng hay thay đổi, khó thành công được. Lý Tán Khí và Tụ khí không phải chỉ ở Cung mệnh mà bao hàm cho 12 Cung. cung phúc cần Tụ khí chứ không tán, cho nên Không kiếp hỏa linh, song hao, khốc hư vốn là những sát bại tinh vào Phúc là rất kém phúc nếu không có Cát tinh đi cùng hợp cách chế giải. Ở Cung Tài cũng rất cần Khí tụ, đó là lý do Thiên Phủ, Vũ Khúc, Lộc Tồn ưa đóng Cung Tài hơn Cung Quan. Nếu làm việc trong một môi trường đòi hỏi đầu óc sáng tạo như nghiên cứu khoa học, đổi mới ở trung tâm nghiên cứu ở một tổ chức công ty, hay trong kinh doanh cần những ý tưởng kinh doanh mới để không bị lạc hậu thì Cung Quan lại rất cần những Sao Tán khí như Không kiếp, Hỏa Linh, Song hao, Thiên hư…ngược lại nếu một người làm công việc đòi hỏi tính kỷ luật cao, tổ chức tốt thì lại cần Khí Tụ. Đối với vấn đề tổ hợp tinh đẩu, mà ngay cả tổ hợp của hung cát tinh cũng rất cần Thủ lĩnh, thủ lĩnh gọi là Quân, các sao đi cùng mang tính bổ trợ là Thần. Quần thần khánh hội theo nghĩa rộng không chỉ là Tử phũ vũ tướng mà có thể là Mệnh Thiên Cơ, với Thiên Cơ làm Quân, các thần sát hỗ trợ đi cùng là Thần. Nếu đủ bộ thì có thể lập nên sự nghiệp. Thưa Quý Diễn Đàn Thân Mến! nay tôi lại mạo muội lập lên chủ đề này. vì có lẽ từ trước tới giờ người ta mới chỉ nói là chung chung. hay chỉ áp dùng lý thuyết để an sao mà vẫn chưa hiểu rõ cái bản chất của nó. tại sao lại an tuần triệt như thế? và theo cái nguyên lý gì? với sao tuầngiường như các quý vị có vẻ hiểu rõ hơn do lý thuyết và cách an có phần dễ hiểu hơn dễ nhận biết hơn. như quý vị đã biết tuần thì được an theo lục giáp. sự sự khuyết can mà thừa chi vì thế nên phải độn, đẩy lên hai can để cho đủ chu kỳ vậy. nên cái điểm độn, cái khuyết đó theo lý thuyết thì ta cho nó là vị trí tuần không, nghĩa thực là" khiếm khuyết, là thiếu, chưa đến"đại thể như vậy chứ không phải là cái gì đó ảo hư hay vô. nó vẫn tồn tại một phương diện khách quan chứ không phải chủ quan vậy. còn nói đến triệtcó lẽ đây là một định nghĩa mù mờ, hầu như không có sách vở hay bất kỳ ai đã giải thích nguyên lý an sao triệt này. và tại sao lại an như thế vì đâu? phần lớn chúng chỉ biết áp dụng rồi an nó theo can vậy. rồi tranh cãi là nó không phải không vong, mới là không vong. thực chất tôi cũng chỉ mới hiểu ra điều này mời gần đây mà thui, trước đó vẫn còn mù mờ và mơ màng lắm. và theo các sách xưa thìsao triệt còn gọi là tiệt. và cứ hiểu theo định nghĩa đắn đoạn, băm chảm gì đó. quả là rất mơ hồ phải không quý vị?rùi tự hỏi tại sao triệt không an tại tuất hợi?giường như không có câu giải thích nào cho nó vậy? theo cách an thì chúng ta an sao triệt như _ giáp và kỷ cùng an tại thân dậu _ ất canh thì an tại ngọ mùi _ bính tân an tại thìn tỵ _ đinh nhâm an tại dần mão _ mậu quý an triệt tại tý sửu vậy tại sao nó lại an như thế? sau đây tôi xin được giải thích _ sao triệt cũng được an theo như nguyên lý an sao tuần không vậy, nhưng chỉ có điều nó được an theo lục giáp của tháng của năm sinh thuộc giáp nào sau đó rồi an tại đó thôi muốn hiểu được ta phải thuộc hổ độn _năm giáp kỷkhởi tháng dần bắt đầu từ can bính. ta sẽ khởi thuận là bính dần là tháng 1 tiếp đến là đinh mão là tháng 2. tiếp tục đến mậu thìn, kỷ tỵ, canh ngọ, tân mùi, nhâm thân, quý dậu,giáp tuất. đến chữ giáp tuất vậy năm giáp kỷ này có các tháng và các đó có xuất hiện tuần giáp tuất. vậy do tuần giáp tuất theo nguyên lý tuần không thì tuần giáp tuất an tuần không tại thân dậu. _năm ất canhthì khởi tháng dần là can mậu dần, tiếp tục khởi thuận tháng đến kỷ mão, canh thìn,tân tỵ, nhâm ngọ, quý mùi và đếngiáp thân. vậy năm ất canh có các tháng nằm trong tuần giáp thân do vậy theo nguyên lý an sao tuần, thì đến giáp thân thì tuần không an tại ngọ mùi vậy. _năm bính tânkhởi canh dần là tháng 1 tiếp đến tân mão, nhâm thìn, quý tỵ và đếngiáp ngọ, tương tự tuần giáp ngọ ta an tuần không tại thìn tỵ. _năm đinh nhâmta khởi từ tháng nhâm dần tiếp đến quý mão, giáp thìn,tương tự tuần giáp thìn an sao tuần không tại mão dần _năm mậu quý khởingay là giáp dần vậy theo quy luận an saotuần thì giáp dần an tại tý sửuvậy + Kết Luận 1thực chất ý nghĩa của sao triệt cũng được an theo lục giáp như tuần không vậy nhưng chỉ khác tuần không của một giáp lớn 10 năm, còn sao triệt vì thời gian ngắn hơn chỉ trong tuần chu kỳ là 10 tháng lại xuất hiện vậy. chỉ vì lẽ đó người sáng tạo ra tử vi không thể lấy lý do lại an thêm sao tuần được nữa. mà phải đặt tên là sao triệt. và sao tuần tượng trưng cho sự khuyết hãm thời gian của năm hay của thái dương vậy. còn sao triệt tượng trung cho tuần không của nguyệt tháng hay thái âm vậy. chính vì lẽ sao triệt nhanh đến, chu kỳ ngắn nên nó có sức phá, cản trở sớm hơn, nhanh hơn sao tuần chu kỳ nâu hơn. và có từ đây mới có lý thuyết triệt ảnh hưởng 30 năm đầu, tuần sau 30 năm chăng? tuần là tuần, triệt là triệt đương nhiên quan điểm đó là sai trái, thiếu sót. + Kết Luận 2sao triệt cũng là một trong tam không mà người xưa nói vậy. nó cũng là một sao tuần không vậy. có người chắcsẽ hỏi năm mậu quýcứ thể mà khởi sẽ qua 2 giáp là giáp dần và giáp tý sao không an theo giáp tý lại an thoe giáp dần. xin thưa là nếu giáp dần là cái đi trước, đến trước ta phải theo nguyên tắc đó, sao có thể an sao triệt theo giáp tý được? tiếp nữa nếu an giáp tý nữa thì năm mậu quý cótới 4 sao triệt ở tý sửu và tuất hợisao? đương nhien là vô lý đúng không ạ? VÀ ĐÂY CŨNG LÀ LÝ DO TẠI SAO SAO TRIỆT KHÔNG AN TẠI TUẤT HỢI VẬY! minhgiac! Tam Nguyên An 2 sao Địa-kiếp, Địa-không Gọi tắt là KIẾP KHÔNG Theo giờ sinh Kiếp thuận , Không nghịch ĐỊA-KIẾP Kể cung Hợi là giờ Tý, tính thuận tới giờ sinh , ngưng tại cung nào an Địa kiếp tại cung ấy . ĐỊA-KHÔNG Kể cung Hợi là giờ Tý, tính nghịch tới giờ sinh , ngưng tại cung nào an Địa không tại cung ấy . Thí dụ Người sinh giờ Mão An Địa-kiếp tại cung Dần , an Địa-không tại cung Thân. THƠ Kiếp không khởi tự Hợi cung Không nghịch kiếp thuận , long hung tuỳ thời NHẬN XÉT ĐỂ GHI NHỚ 1 KIẾP KHÔNG ĐỒNG CUNG Sinh giờ Tý Kiếp Không đồng cung tại Hợi Sinh giờ Ngọ Kiếp Không đồng cung tại Tỵ 2 KIẾP KHÔNG GIÁP BIÊN Sinh giờ Sửu, giờ Hợi Kiếp Không giáp biên tại Hợi Sinh giờ Tỵ, giờ Mùi Kiếp Không giáp biên tại Tỵ 3 KIẾP KHÔNG CƯ 2 CUNG XUNG CHIẾU NHAU Sinh giờ Mão Kiếp an tại Dần. Và an Không tại Thân cung Sinh giờ Dậu an Địa-kiếp tại cung Thân Và an Địa-không tại cung Dần Tập bấm cung ở bàn tay 2 sao Địa-kiếp, Địa-không này , an theo giờ sinh , sẽ nhập tâm được sinh giờ nào , có cách đồng cung , giờ nào có cách giáp biên , và giờ nào sẽ cư cung xung chiếu nhau, để sau không phải tính tới Kiếp Không khi lấy số. An Mạnh-chủ Tuỳ theo năm sinh. Người sinh năm Tý an Mạnh chủ với Tham-lang Người sinh năm Sửu Hợi an Mạnh chủ với Cư-môn _ _ _ Dần Tuất_ _ _ _ Lộc-tồn _ _ _ Mão Dậu_ _ _ _ Văn-khúc Người sinh năm Ngọ an Mạnh chủ với Phá-quân _ _ _ Thân Thìn an Mạnh chủ với Liêm -trinh _ _ _ Mùi Tỵ _ _ _ _ Vũ-khúc An Thân- chủ Người sinh năm Tý an Thân chủ với Linh-tinh _ _ _ Sửu Mùi _ _ _ Thiên-tướng _ _ _ Ngọ _ _ _ Hoả-tinh _ _ _ Dần Thân _ _ Thiên-lương _ _ _ Mão Dậu _ _ Thiên-đồng _ _ _ Thìn Tuất _ _ Văn-xương _ _ _ Tỵ Hợi _ _ _ Thiên-cơ. Thơ an Mạnh-chủ Mạnh –chủ sao lại kể ra Tuổi Hợi, tuổi Sửu cùng nhà Cự –môn Dần Tuất Hợi với Lộc-tồn Mão Dần Văn Khúc Chuột còn Tham-Lang Vũ-khúc Rắn trắng Dê vàng Liêm trinh Rồng Khỉ, Ngựa hàng Phá quân Thơ an Thân- chủ Thân –chủ ngộ hãm thời hung Người mà tuổi Tý hội cùng Linh-tinh Tuổi Ngọ sao Hoả một mình Sửu Mùi Thiên-tướng Thiên-lương Thân Dần Thiên-đồng Mão Dậu xuất thân Thiên cơ Tỵ Hợi một phần không sai Thìn Tuất Văn-xương an bài Đồng cung Thân Mạnh mấy ai sành tầy. An sao Triệt-lộ Gọi tắt là Triệt TRIỆT Tuỳ theo hàng can của tuổi sinh, mà định cung an sao Triệt. Sao Triệt cư giữa vị trí của 2 cung SINH THUỘC CAN CUNG AN TRIỆT Giáp Kỷ Thân Dậu Ất Canh Mùi Ngọ Bính Tân Thìn Tỵ Đinh Nhâm Dần Mão Mậu Quý Tý Sửu BẢNG KÊ TRIỆT AN TẠI 10 CUNG BÍNH TÂN ẤT CANH GIÁP KỶ ĐINH NHÂM MẬU QUÝ Thí dụ Người sinh năm Bính Dần hay Tân Tỵ An Triệt ở giữa 2 cung Thìn và Tỵ Tam Nguyên THƠ AN TRIỆT Triệt không thời Giáp Kỷ Hầu Kê ất Canh Mùi Ngọ đi về Bính Tân Thìn Tỵ vẫn nề xưa nay Đinh Nhâm Dần Mão sánh bày Mậu Quý Tý Sửu phương này lạ thay. An sao Tuần không Gọi tắt là TUẦN TUẦN Muốn an sao Tuần, phải tính xem tuổi sinh thuộc Giáp nào trong Lục giáp. Vì sao Tuần an theo giáp, thường gọi là con nhà giáp nào, thí dụGiáp Tý, Giáp Tuất. Tuần cũng cư ở vị trí giữa 2 cung như sao Triệt. Tính thấy tuổi sinh thuộc Giáp nào Một Giáp là 10 tuổi Cung an Tuần Khởi từ Giáp Tý tới Quý Dậu Tuất + Hợi Khởi từ Giáp Tuất tới Quý Mùi Thân + Dậu Khởi từ Giáp Thân tới Quý Tỵ Ngọ + Mùi Khởi từ Giáp ù Ngọ tới Quý Mão Thìn + Khởi từ Giáp Thìn tới Quý Sửu Dần + Mão Khởi từ Giáp Dần tới Quý Hợi Tý + Sửu BẢNG KÊ TUẦN AN TẠI 12 CUNG GIÁP NGỌ GIÁP THÂN GIÁP TUẤT GIÁP THÌN GIÁP TÝ GIÁP DẦNÙ Xem bảng kê dưới Phải tính tuổi sinh thuộc con nhà Giáp nào, để an sao Tuần tại cung nào. Người sinh tuổi Thuộc Giáp nào Cung an Tuần Ất Sửu hay Nhâm Thân Giáp Tý Tuất Hợi Ất Hợi hay Nhâm Ngọ Giáp Tuất Thân Dậu Ất Dậu hay Nhâm Thìn Giáp Thân Ngọ Mùi Ất Mùi hay Nhâm Giáp Ngọ Thìn Tỵ Ất Tỵ hay Nhâm Tý Giáp Thìn Dần Mão Ất Mão hay Nhâm Tuất Giáp Dần Tý Sửu Cách ghép can chỉ để biết thuộc Giáp nào trong 6 Giáp, vì Thiên can chỉ có 10 hàng , mà địa chỉ có 12. 1Bắt đầu lấy chữ đầu của hàng can là Giáp, đem ghép với chữ đầu của hàng chi, thành ra Giáp Tý , nếu cứ ghép xuôi tới 10 hàng , thì chữ Quý cuối cùng của 10 hàng can sẽ gặp địa- chi Dậu, như vậy là hết 1 Giáp, và các tuổi từ Giáp Tý tới Quý Dậu sẽ thuộc con nhà Giáp Tý. 2Lại tiếp tục lấy chữ đầu của hàng can là Giáp , ghép với chữ Tuất của hàng chi còn lại, nhập chung lại sẽ thấy Giáp Tuất, và cứ như thế , thứ tự nạp xuôi , tới khi chữ Quý cuối cùng bên hàng can , gặp chữ nào ở bên địa-chi, tức là hết một Giáp , như vậy tuổi từ Giáp Tuất tới Quý Mùi đều thuộc con nhà Giáp Tuất cả. 3Cứ thứ tự nạp xuôi như trên , sẽ thấy hiện ra 5 vòng địa-chi hợp với 6 vòng Thiên can , cho đủ 60 năm , mới đủ 6 giáp. Vì Thiên can có 10 hàng , phải 6 lần mới đủ 60 năm. Và địa-chi có 12, chỉ 5 lần đã đủ 60 năm, nên khi ghép can với chi , mới thấy thừa lại 2 hàng địa-chi , ngay từ giáp đầu là Giáp Tý, và phải ghép đủ với nhau 60 năm mới thấy bên Thiên can tới chữ Quý, thì bên địa-chi cũng tới chữ Hợi Như vậy , năm Giáp Tý là năm khởi đầu của một vòng 60 năm và năm Quý Hợi là năm cuối cùng của 1 vòng 60 năm. Và trong 1 vòng 60 năm , gồm đủ tục Giáp như ta thường thấy . THƠ AN TUẦN Tuần không tính nghịch vòng quanh Giáp Tý Tuất Hợi ngóng trông đêm ngày Giáp Tuất Thân Dậu giãi bày Giáp Ngọ Thìn Tỵ Giáp Thân Ngọ Mùi Giáp Thìn Dần Mão nhớ ai Giáp Dần Tý Sửu không sai một phần . CÁCH AN SAO TUẦN TRÊN BÀN TAY Phải tính tuổi sinh thuộc con nhà giáp nào , để an sao Tuần trên 12 cung. Thập can có 10 hàng là Giáp ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. COI NHƯ MỘT BÀI THƠ Đọc ngược lại nhập tâm là Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính ất Giáp. Nguyên tắc Bấm tuổi sinh vào cung địa bàn ,rồi đọc ngược , và bấm ngược hàng can , bắt đầu từ can tuổi sinh tới Giáp, vì chữ Giáp là đầu của thập can . Thí dụ Người sinh tuổi Bính Dần -Bấm can Bính vào cung Dần ,rồi đọc ngược hàng can Bính Ất Giáp. Sẽ thấy Bính ở cung Dần ất ở cung Sửu Và Giáp ở cung Tý Như vậy biết ngay, tuổi Bính Dần thuộc con nhà Giáp Tý, an sao Tuần ở giữa hai cung Tuất Hợi. ¯ CỰ MÔN NAM MẠNH CA Cự môn Tý Ngọ nhị cung phùng. Cục trung đắc ngộ rĩ vi vinh. Tam hợp hoá cát Khoa Quyền Lộc Quan cao cực phẩm y tử bác. NGUYÊN TẮC AN SAO TUẦN Sao Tuần an theo lục giáp Vị trí lục giáp trên bàn tay 1 Giáp Tý ở cung Tý an sao Tuần tại Tuất Hợi. 2 Giáp Tuất ở cung Tuất an sao Tuần tại Thân Dậu. 3 Giáp Thân ở cung Thân an sao Tuần tại Ngọ Mùi. 4 Giáp Ngọ ở cung Ngọ an sao Tuần tại Thìn Tỵ. 5 Giáp Thìn ở cung Thìn an sao Tuần tại Dần Mão. 6 Giáp Dần ở cung Dần an sao Tuần tại Tý Sửu. Tam Nguyên MỘT GIÁP CÓ 10 TUỔI TỪ GIÁP TÝ TỚI QUÝ DẬU Hình vẽ áp dụng an sao Tuần. Thí dụ người sinh tuổi Bính Dần Thuộc con nhà giáp nào NGUYÊN TẮC TÌM TUỔI THUỘC GIÁP NÀO Bất kể tuổi sinh nào , nạp ngược và bấm cung ngược , khởi từ can tuổi sinh , tới khi giáp gặp cung nào, tức là tuổi sinh thuộc Giáp ấy. Nạp âm và bấm nghịch Bính Ất Giáp . Bính tại cung Dần. Ất tại cung Sửu Giáp tại cung Tý,như vậy tuổi sinh thuộc Giáp Tý An sao Tuần ở Ất Hợi. MỘT GIÁP CÓ 10 TUỔI KHỞI TỪ GIÁP TỚI QUÝ Áp dụng tìm an sao Tuần. Thí dụ người sinh tuổi ất Hợi Thuộc con nhà giáp nào NGUYÊN TẮC Bất kể tuổi sinh nào , nạp ngược hàng can ,cho tới khi giáp gặp cung nào, tức là tuổi sinh thuộc Giáp ấy. Nạp âm và bấm ngược hàng can Ất Giáp . Bấm Ất vào cung Hợi. Giáp vào cung Tuất, như vậy tuổi Ất Hợi thuộc Giáp Tuất. An sao Tuần tại Thân Dậu cung. GIÁP ĐỨNG ĐẦU , QUÝ ĐỨNG CUỐI LÀ 1 GIÁP Áp dụng tuổi sinh thuộc Giáp nào Thí dụ người sinh tuổi Đinh Hợi Nạp âm ngược hàng can Đinh Bính Ất Giáp. Bấm Đinh tại cung Hợi tức là tuổi sinh. Bính tại cung Tuất. Ất tại cung Dậu Giáp tại cung Thân, tuổi sinh thuộc Giáp Thân. An sao Tuần tại Ngọ Mùi. 10 TUỔI THUỘC GIÁP NGỌ Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất. Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Mậu Tuất. Nạp âm ngược và bấm ngược hàng can Mậu Đinh Bính Ất Giáp. 1 Bấm Mậu vào cung Tuất. 3 Bấm Bính vào cung Thân Như vậy tuổI sinh thuộc con nhà Giáp Ngọ. An sao tuần vào cung Thìn Tỵ. 10 TUỔI THUỘC GIÁP THÌN Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân. Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Đinh Mùi. Nạp âm ngược hàng can áp dụng cho tất cả các tuổi. 1Bấm Đinh vào cung Mùi. 2Bấm Bính vào cung Ngọ 3Bấm Ất vào cung Tỵ 4Bấm Giáp vào cung Thìn Như vậy tuổI sinh Đinh Mùi thuộc Giáp Thìn. An sao tuần tại cung Dần Mão. 10 TUỔI THUỘC GIÁP DẦN Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ. Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi. Áp dụng tìm tuổI thuộc giáp nào. Thí dụ NgườI sinh tuổI Quý Hợi. Nạp âm ngược Quý Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất Giáp. 1 Bấm Quý vào HợI 2 Bấm Nhâm vào cung Tuất. 3 Bấm Tân vào cung Dậu 4 Bấm Canh vào cung Thân. 5 Bấm Kỷ vào cung Mùi 6 Bấm Mậu vào cung Ngọ . 7 Bấm Đinh vào cung Tỵ 8 Bấm Bính vào cung Thìn . 9 Bấm Ất vào cung Mão 10Bấm Giáp vào cung Dần. Như vậy tuổI sinh Quý HợI thuộc con nhà Giáp Dần. An sao tuần vào cung Tý Sửu. Tam Nguyên Tuần Triệtlà những bộ sao cuối cùng trong khoa tử vi do Tử Vi Cải Mệnh biên đang xem Tuần triệtSao Tuần Và Triệtrất khó hiểu với nhiều người, tuy nhiên qua bài viết dưới đây của chúng tôi, các bạn sẽ có cái nhìn đa chiều và dễ hiểu hơn rất an sao Tuần – TriệtSao Triệt được an dựa theo thiên can của năm sinh, cụ thể như sauThiên CanGiáp–KỷẤt-CanhBính–TânĐinh–NhâmMậu-QuýTriệtThân–DậuNgọ-MùiThìn–TịDần–MãoTý–SửuSao Tuần được an dựa theo năm sinh, cụ thể là dựa theo năm sinh thuộc tuần thủ Giáp nào sinh ra. Từ năm sinh nhẩm ngược trở về năm có thiên can Giáp gần nhất, ta tìm được tuần thủ của năm sinh đó, tiếp theo tra theo bảng sauTuần thủGiáp TýGiáp DầnGiáp ThìnGiáp NgọGiáp ThânGiáp TuấtTuầnTuất-HợiTý-SửuDần-MãoThìn-TịNgọ-MùiThân-DậuNgũ hànhTriệt thuộc thuộc khíTùy tínhTriệtBế tắc, ngăn trở, chướng ngại, chặn đứng, phá trắc trở, dai dẳng, xoay trở bao giờ cũng chậm nghĩa chung của Tuần – TriệtTuần và Triệt là hai sao trong bộ tứ Không bao gồm Địa Không, Thiên Không, Tuần Không và Triệt Không. Tuần có tên gọi đầy đủ là Tuần Trung Không Vong và Triệt là Triệt Lộ Không Vong. Theo ý nghĩa Hán Việt thì Không” có nghĩa như sự hư rỗng, trống không, không có gì cả…”Vong” có nghĩa là là mất, trốn, chết, bị tiêu diệt, đi vắng…Qua đó, với cái tên chung cùng là “Không Vong”, Tuần – Triệt có ý nghĩa như một sự ngăn trở, chặn đứng, trừ bỏ không cho ai ra, không cho ai vào tại nơi nó đóng, một bức tường thành chặn đứng giữa con đường ngăn chặn mọi giao thông đi qua, không cho một kẻ bên ngoài nào động vào…Nếu nơi đó đang phồn thịnh, tốt tươi, nhiều cát tinh chiếm đóng thì quá ư là một điều đáng tiếc, mọi sự tốt đẹp đều bị ngăn trở, hạn chế, không cho được bộc phát ra ngoài…Ngược lại, tại những nơi có sát bại tinh đánh phá, chiếm đóng thì Tuần – Triệt quả là một trại cải tạo hữu ích, một nơi giam giữ, không cho những kẻ lưu manh, gian trá kia được cơ hội gây hại, ảnh hưởng tới những người vô tội xung quanh các cung còn lại. Ngoài ra, đặc tính Tuần – Triệt có tác dụng lên toàn diện, không có biệt lệ, tức là sao này chi phối tất cả các sao đồng cung với chúng, không vị nể một sao nào hay một cung nào. Do đó mà tại một nơi có cả sao tốt lẫn sao xấu thì ảnh hưởng của Tuần – Triệt cũng trở nên nửa xấu nửa tốt, xấu vì giảm chế tác dụng của những cát tinh mà cũng tốt vì ngăn chặn được những cái xấu xuất hiện…Tuần và Triệt có mối quan hệ như anh em ruột thịt, cùng ý nghĩa về sự ngăn cản, trắc trở tại nơi mình đóng nhưng Triệt Không thường thể hiện tính cách như một người anh cả có tính cách mạnh bạo và dữ dội hơn người em là Tuần Không. Nếu như Tuần Không báo hiệu sự khó khăn, ngăn trở, chiếc phanh xe làm tốc độ chậm dần lại thì Triệt Không báo hiệu sự bế tắc, chướng ngại lớn, sự lụi bại nặng nề, là bức tường chắn ngang giữa đường không cho kẻ nào đi qua…Nhưng ngược lại, theo thời gian về lâu về dài thì sức ảnh hưởng của Tuần Không ngày càng trở nên mạnh mẽ và nặng nề hơn, Triệt Không thì chỉ mạnh cho tới khoảng 30 tuổi, tuổi tam thập nhi lập, giai đoạn mà từ đó con người có thể tự lập, không còn chịu ảnh hưởng nặng của gia đình, có thể vùng vẫy, tự do, tha hồ làm những điều mà trước kia tuổi trẻ chưa thể làm được…Ở một khía cạnh khác, mối quan hệ khăng khít giữa Tuần và Triệt còn được thể hiện là khi vào vận có Tuần Không thì Triệt Không sẽ được mở, tạm thời loại bỏ các tác dụng của Triệt Không trong thời gian của vận đó và ngược lại khi vào vận Triệt sẽ mở Tuần. Khi đó nơi được mở khóa có thể tha hồ tung tăng, bay nhảy mặc sức, không lo bị cản trở như xưa, nhưng nếu nơi đó hội quá nhiều sát bại tinh thì phải thật dè chừng vì có thể tai họa cũng sắp tới gần…Tuần – Triệt cũng ưa khi tọa thủ tại những cung vô chính diệu, có tác dụng như một chiếc mỏ neo giúp con thuyền không có người lái trở nên vững chắc hơn, bớt cảm giác chông chênh, bồng bềnh trên sông, trên biển… Một cung vô chính diệu là một nơi vô chủ, không có chính tinh tọa thủ, thường hay bị lung lay, xoay chuyển bởi những tác nhân bên ngoài, qua đó Tuần – Triệt biến thành một bức tường vững chắc, kiên cố, luôn bảo vệ nơi chúng đóng khỏi những tác nhân bên ngoài xung phá, tác động, bền bỉ với thời gian…Nếu vô chính diệu mà được Tứ Không Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không thì rất đẹp, được Tam Không thì đẹp, đươc Nhị Không thì tầm thường, còn chỉ Nhất Không thì phú Tử Vi có câu“Triệt đáo kim cung, Tuần lâm hỏa địa” có ý nghĩa ám chỉ sao Triệt Không có vị trí đắc địa tại hai cung gồm Thân – Dậu ứng với hai tuổi can Giáp – Kỷ và sao Tuần Không đắc địa tại hai cung Tị – Ngọ ứng với tuần thủ Giáp Thân và Giáp Ngọ. Tại vị trí đắc địa này, Tuần – Triệt thường chỉ ngăn trở, chặn đứng những sát bại tinh hoặc những sao có tính chất gây hại bên trong không cho bộc lộ ra ngoài, ngược lại với các cát tinh thì được tiếp tục phát huy mà không hề động chạm tới. Chính vì vậy mà người ta thường rất ưa thích khi Tuần – Triệt đứng tại đúng vị trí đắc địa của nó, thật không gì tốt lại, có thể thấy hai sao Tuần – Triệt là hai trung tinh chuyên về sự ngăn trở, giảm chế, ngăn cản mọi thứ tại nơi nó đóng, chính vì vậy mà chúng thường ưa khi đóng tại những nơi nào có nhiều sát bại tinh, những nơi có nguy cơ phát ra tai họa, bệnh tật như cung Tật Ách, đi cùng cát tinh thì cũng giảm chế đi nhiều tác dụng. Do đó mà có thể đánh giá Tuần – Triệt có tính chất nửa tốt nửa xấu, ta phải tùy thuộc vào vị trí cung tọa thủ và các sao đi kèm thì mới có thể xét đoán được thật rõ ràng và chính xác…Ý nghĩa sao Tuần Triệt ở cung Mệnh“Tuần Triệt niên đầu, thiếu niên tân khổ”Câu phú trên ám chỉ những ai có Tuần – Triệt thủ cung Mệnh thì tuổi trẻ thường dễ hay phải lận đận, nghèo, cực, bôn ba, đau ốm, công việc học tập gặp trắc trở, nhất là khi Tuần Triệt đi theo hai đại vận đầu đời của đương số. Tuy nhiên trường hợp này vẫn có ngoại lệ khi cung Mệnh đắc Tuần Triệt hợp cách, cung Phúc, Phụ Mẫu, Huỵnh Đệ đẹp thì cũng không sao – Triệt thủ cung Mệnh là người thường ít nói, lầm lỳ, không thích bộc lộ ra ngoài, cất giấu mọi thứ bên trong. Bản thân tuổi trẻ hay gặp nhiều trắc trở, ngăn cản nên dễ trở nên trầm tính, không muốn chia sẻ ra bên ngoài là vì như – Triệt thủ cung Mệnh có nhiều sát bại tinh đánh chiếm thì trở thành người nóng tính, nhiều mưu mô nhưng kiểm soát được mình, không để cho những tật xấu, thủ đoạn trong mình được bộc lộ ra, thành một người rất giỏi, khó ai có thể qua mắt được – Triệt thủ cung Mệnh và cung Phụ Mẫu thì có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời để lập sinh bất phùng thời, tuổi trẻ dễ gặp những tai họa bất ngờ ập xuống, gặp nhiều cảnh trớ trêu, càng lớn lên khi tác dụng của Triệt giảm dần thì mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn, còn Tuần thì càng ngày cản trở càng mạnh mẽ hơn, đeo bám đến suốt cuộc nhân thường ưa Triệt hơn Tuần, nữ nhân thường ưa Tuần hơn Triệt. Nam gặp Tuần thì càng về già càng gặp nhiều gian truân, cản trở khó ngóc đầu lên được, gặp Triệt thì chỉ khó khăn tuổi trẻ, tạo nên nhiều ý chí quyết tâm thay vô chính diệu có đắc Tứ hay Tam Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, tuổi niên thiếu vất Vi, Thiên Tướng gặp Tuần – Triệt thì kém, là người dễ hay gặp tai nạn, ốm đau…người dễ nhụt trí, hay thay đổi, công danh không cao, dễ có nhiều lần bị mất chức, đuổi việc…Sao Tham Lang gặp Triệt thì giảm nghĩa Tuần Triệt ở các cung khácÝ nghĩa sao Triệt Không ở cung Phụ MẫuTuần – Triệt thủ cung Phụ Mẫu thì mẹ cha mất sớm, nhất là nếu Nhật, Nguyệt lạc hãm hay bị Không Kiếp chiếu. Cần cân nhắc với hai sao Nhật, Nguyệt và cung Phụ Mẫu có Tuần, – Triệt thủ cung Phụ Mẫu thì cha mẹ vất vả, hay gặp cản trở, chướng ngại trong cuộc đời. Chỉ tốt khi đu cùng chính tinh hãm địa hoặc cung vô chính là người âm dương thuận lý thì tuổi trẻ thường hay gặp khó khăn, cản trở trên con đường học tập, công nghĩa sao Triệt Không ở cung Phúc ĐứcCung Phúc Đức không ưa Tuần – Triệt tọa thủ, chỉ tốt khi có nhiều sát tinh, chính tinh hãm địa hoặc vô chính phúc đức bị trục trặc trên phương diện nào Dương thỉ dòng họ thất tự, phải lập con – Triệt cư cung Phúc thì đương số khó được nhận những may mắn, phúc phần mà tổ tiên để bớt lương duyên, may mắn, dễ muộn vợ muộn mả tổ tiên thường kém, đặt tại vị trí không đẹp, hay bị gì đó vây quanh hoặc chắn ngang phía trước đóng cung Phúc thì tuổi trẻ không được nhiều may mắn, phải tự tôn bồi phúc đức thì càng về già càng được hưởng những phước đức ý. Tuần thì ngược lại, càng lớn càng kém may mắn, ít được tổ tiên phù nghĩa sao Triệt Không ở cung Điền TrạchTuần – Triệt đóng cung Điền thì giảm chế hoặc không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó, tài sản có nhưng không đứng tên làm ra của nhưng phải chật cư Phúc – Điền thì không được hưởng di sản tổ phụ để lại, cư Điền – Quan thì tuổi trẻ vất vả, khó tích lũy được tiền bạc của cư Phúc – Điền thì nhà cửa thường dễ của tổ tiên để lại, khó bán được, chỉ sử dụng được để ở và thờ cúng tổ tiên. Cư Điền – Quan thì công việc có thể tích lũy được của cải, tài sản nhưng hay bị hao hụt, hao mất đi một phần, càng về già càng khó tích cư Điền thì nhà thường ở ngã ba, ngã tư đường, Tuần cư Điền thì nhà thường dễ ở cuối ngõ, cuối hành lang chung cư, nhà được vây quanh bởi tường rào, hàng xóm xung quanh, khó tiếp nghĩa sao Triệt Không ở cung Quan LộcTuần – Triệt cư cung Quan thì công danh lận đận, khó nhọc mới làm phải chịu vất vả trong một thời gian, công danh thường khó Tướng, Triệt, Tuần thì dễ có thể bị bãi chức, hay bị tai nạn trong công cư cung Quan thì công việc không thuận lợi nhưng cũng khó bỏ, để thì buồn mà cắt thì cư cung Quan – Nô thì trong công việc không tạo ra được mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, cấp dưới, khó phát cư cung Quan – Nô thì công việc hay liên quan, dính dáng nhiều tới bạn bè đồng nghiệp, đôi khi vì họ mà công danh khó có thể lên cao, hay gặp sự cố, cản nghĩa sao Triệt Không ở cung Nô BộcTuần – Triệt thủ cung Nô có nghĩa là tôi tớ thay đổi, ra vào luôn, không ai ở lâu cư Nô – Di thì ra ngoài ít bạn ít bè, không hay giao tiếp, quan hệ với ai, lúc có việc cần thì không có ai bên cư Nô thì ra ngoài ít bạn, chỉ chơi thân với một số người thôi, càng về già càng ít nghĩa sao Triệt Không ở cung Thiên DiTuần – Triệt cư cung Di thì là người ít ra ngoài, ra ngoài ít quan hệ, giao tiếp, đặc biệt là khi có Tuần – Triệt tại 2 cung Nô – – Triệt tại 2 cung Di – Tật thì lại tốt, người ra ngoài cẩn trọng nên ít dính tai vạ, bệnh ra ngoài hay đi xa dễ hay gặp vấn đề, gặp chuyện để rồi lại phải quay về đi làm ăn xa thường không hay được thuận lợn, hay gặp cản trở, tai vạ ở bên nghĩa sao Triệt Không ở cung Tật ÁchRất cần có Tuần – Triệt tại cung Tật Ách vì nhờ hai sao này mà bệnh, tật và họa sẽ tiêu tán hay giảm thiểu đi rất nhiều, sức khỏe và may mắn sẽ được bảo đảm nhiều cư cung Tật thì đánh tan bệnh tật, tai họa cư cung Tật thì ngăn cản, giữ nguyên không cho bệnh tật hay tai họa phát triển, tái phát, do vậy mà cung Tật vẫn thường ưa Triệt nghĩa sao Triệt Không ở cung Tài BạchTuần – Triệt cư cung Tài thì làm cản trờ khả năng kiếm tiền, khả năng thu nhập của đương không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó, làm ra của nhưng phải chật – Triệt cư Tài – Tật thì tuy đồng tiền kiếm ra chậm, ít nhưng hạn chế được khả năng dính tới tai họa, bệnh tật đi nghĩa sao Triệt Không ở cung Tử TứcTuần – Triệt cư cung Tử thì sát con, nhất là con đầu sinh con đầu lòng khó khăn, khó thủ cung Tử Tức thì thường chậm trễ có con, gặp nhiều vấn đề ngăn trở. Triệt thủ cung Tử thì thường dễ xảy thai, hao hụt con cái hay gặp trắc trở sau này, ở xa cha cư cung Tử – Phối thì chậm vợ chậm chồng nhưng cưới thường dễ được cả trâu lẫn nghĩa sao Triệt Không ở cung Phu ThêTuần – Triệt thủ cung Phu Thê nói lên sự trắc trở hôn nhân, nhất là sự thất bại của mối tình người khác làng, khác tỉnh mới tốt, nhưng nhân duyên phải gặp khó gặp Mã Vợ chồng bỏ nhau rất dễ dàng, vợ chồng ôm con bỏ về cư cung Phối thì dễ có lần tưởng sắp cưới rồi lại nghĩa sao Triệt Không ở cung Huynh ĐệTuần – Triệt cư cung Huynh Đệ thì anh chị em xung khắc hoặc ít anh chị thì dễ có anh cả, chị cả mất nghĩa sao Triệt Không đi cùng các sao khácTuần – Triệt đi cùng Thiên Tướng, Tướng Quân, Quốc Ấn thì công danh không cao, treo cao thì ngã đau, dễ bị sa thải, mất chức…Triệt đi cùng Thiên Tướng, Tướng Quân, Tử Vi thì dễ dính tai họa nguy hiểm tới tính đi cùng Tham Lang thì giảm thọTuần – Triệt đi cùng Cự Môn Tý Ngọ thành cách thạch trung ẩn ngọc, trở thành con người vô cùng thông minh và sắc sảo, giảm chế đi cái thị phi, nói nhiều của Cự – Triệt đi với Thái Âm Thái Dương hãm địa thì tốt, làm tăng sáng cho Âm – Triệt đi cùng Thiên Phủ thì thành cách Phủ phùng Không, chủ về cái kho rỗng, khó tích lũy được tài sản, của nghĩa sao Triệt Không đi vào các hạnHạn vào Triệt thì mở Tuần, vào Tuần thì mở gặp sao sáng sủa thì hạn lại trở nên mờ ám, mưu sự trắc trở, thất gặp sao xấu xa thì hạn được trở nên sáng sủa, dù có gặp trắc trở ban lại, Tuần Triệt là hai sao hết sức quan trọng, chi phối các cung, các sao, có thể biến tốt thành tương đối xấu, biến xấu thành tương đối tốt. Hiệu lực nghịch đảo đó có thể làm lạc hướng luận đoán nếu sự cân nhắc không tinh vi. Trong Tử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng của các sao, người luận giải thường lúng túng khi gặp 2 sao Tuần - Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhất về ngũ hành và cường độ, thời gian ảnh hưởng nên còn rất nhiều tranh cãi và nghi vấn khi luận giải lá số. Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phải lưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời kết luận trong nhiều trường hợp. Dù sao thì đây cũng là hai sao đặc biệt quan trọng trong các sao của Tử Vi vì Triệt - Tuần không chỉ chi phối các cung mà còn chi phối các sao, biến tốt thành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu... nên Triệt - Tuần cần được cân nhắc cẩn trọng khi đưa ra lời luận giải. Có 4 quan điểm về ngũ hành của Triệt - Tuần Quan điểm thứ nhất cho rằng Triệt hành Kim đới Thủy, Tuần hành Hỏa đới Mộc Quan điểm thứ hai cho rằng Triệt - Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vào hành của cung mà Triệt - Tuần án ngữ. Quan điểm thứ ba cho rằng Triệt hành Kim, Tuần hành Thủy. Quan điểm thứ tư cho rằng Triệt hành Hỏa, Tuần hành Thổ. Trong 4 quan điểm trên thì phần nhiều người xem số chọn quan điểm thứ nhất cho Triệt hành Kim, Tuần hành Hỏa, sau đó là quan điểm thứ hai cho rằng Triệt - Tuần mang hành của cung án ngữ, còn quan điểm thứ ba, thứ tư rất ít người chọn nhất là quan điểm thứ tư. Trong phạm vi bài viết này, người viết trình bày sơ lược một số điểm về Triệt - Tuần mà người học Tử Vi cần lưu ý. 1. ẢNH HƯỞNG CHUNG CỦA TUẦN - TRIỆT Tuần Triệt án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theo nguyên tắc được ước lượng như sau Người Dương Nam, Dương Nữ thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dương chịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ. Người Âm Nam, Âm Nữ thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượng cung Âm chịu 70%, cung Dương chịu 30% cường độ. Khi bị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nói bị chận chặn đuôi. Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt như Thủy nhị cục thì 32 năm đầu, sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì là không có ảnh hưởng. Tại các cung Kim, Triệt có tác động mạnh nhất. Tuần thì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng sau 30 tuổi sẽ mạnh dần lên nhưng không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng ảnh hưởng của Triệt khi Triệt ở 30 năm đầu. Tại các cung Hỏa, Tuần có tác động mạnh nhất. Cường độ ảnh hưởng của Tuần Triệt tạm sắp xếp theo thời gian như sau Dưới khoảng 30 tuổi 1. Triệt đương đầu Mạnh nhất 2. Triệt chặn đuôi Mạnh nhì 3. Tuần đương đầu Yếu nhì 4. Tuần chặn đuôi Yếu nhất Trên khoảng 30 tuổi 1. Tuần đương đầu Mạnh nhất 2. Tuần chặn đuôi Mạnh nhì 3. Triệt đương đầu Yếu nhì 4. Triệt chặn đuôi Yếu nhất Trong từng trường hợp trên cũng có biến động riêng, bởi quá trình thay đổi của Tuần Triệt là quá trình biến đổi Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảm xuống. Như vậy trong trường hợp nếu Tuần chặn đuôi thì nhẹ nhất vào lúc 1 tuổi và mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi, còn Triệt đương đầu thì mạnh nhất vào lúc 1 tuổi và giảm dần ảnh hưởng theo thời gian, đến ngoài 30 tuổi thì ảnh hưởng của Triệt giảm đáng kể. 2. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN - TRIỆT VỚI CÁC CUNG Thông thường khi đóng tại cung nào thì Tuần - Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bất kể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô chính Diệu trong trường hợp không có hung tinh đắc địa hoặc tại cung Tật Ách thì lại tốt. Chưa cần coi các sao trong cung, chỉ cần căn cứ vào sự án ngữ của Triệt - Tuần người coi số cũng có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống của đương số. MỆNH Tuần - Triệt đóng tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan nhưng nếu gặp chính tinh lạc hãm thì sẽ đỡ hơn, Tuần - Triệt đóng tại Thân cung an Thân thì khi lập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu, nhưng nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnh đồng cung gặp Tuần - Triệt đương đầu thì nếu trước 30 tuổi đã có sự nghiệp thì tất sự nghiệp đó bị gãy đổ rồi mới bắt đầu lại trong giai đoạn lập thân. Nhìn chung khi Tuần - Triệt đóng tại Mệnh Thân thì đương số là người chật vật trong cuộc sống hoàn cảnh sống không may mắn, công lao được hưởng không xứng đáng..., hoặc lúc sinh ra mình cha mẹ thường làm ăn vất vả, nghèo hèn nhất là lá số có Tuần - Triệt liên cung tại Mệnh - Phụ Mẫu. Đồng thời đây cũng là mẫu người lười biếng, kém thông minh, yếm thế, thiếu tự tin, không có ý chí vươn lên trong cuộc sống... nếu không được nhiều cát tinh, văn tinh hội chiếu về Mệnh Thân hóa giải. QUAN Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường, nghề nghiệp như lận đận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng thất thường... Tùy theo bị chặn đuôi hay đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay ít. Vì quan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệt giữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận còn Triệt chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ giai đoạn trước 30 tuổi nên khi cung Quan gặp Triệt sẽ đỡ hơn gặp Tuần khá nhiều. TÀI BẠCH Tuần - Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không trừ khi vào đại vận tốt và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Cho dù sự hội tụ của các sao thế nào ngoại trừ trường hợp cung Tài vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về thì Tuần - Triệt đóng tại cung Tài cũng khẳng định đương số không thể giàu có lớn được, nhất là khi cung tài bị Tuần án ngữ. THIÊN DI Tuần - Triệt đóng tại cung Thiên Di thì đương số ra ngoài thường không được lợi, tuy nhiên nếu ly hương thì lại tốt hơn nhiều. ĐIỀN TRẠCH Tuần - Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹ để lại, phải tự lập và thường bị trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Cũng như cung Tài, nếu tại cung Điền có Tuần Triệt án ngữ thì chắc chắn đương số không thể có nhiều điền sản lớn được, ngoại trừ trường hợp cung Điền vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về. PHÚC ĐỨC Tuần - Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gần nhau, thường phải ly hương PHU THÊ Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê thì gây trục trặc cho tình duyên hôn nhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ... Nếu lập gia đình sớm thì gia đạo bất hòa dễ đưa đến chia ly. Tuần - Triệt đóng tại cung Phu Thê cũng là yếu tố đưa đến số phận không chồng không vợ nếu cung Phúc vô chính diệu và hội tụ nhiều sao xấu. Cung Phu Thê xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn là gặp Triệt vì nếu gặp Tuần thì về sau gia đạo dễ hạnh phúc hơn gặp Triệt, còn cung Phu Thê đẹp đẽ nếu gặp Triệt thì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống được với nhau đến đầu bạc răng long ... NÔ BỘC Tuần - Triệt đóng tại cung Nô thì bạn bè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền, khó kiếm được người giúp việc trung thành, cũng khó có được những người bạn tri âm tri kỷ. TỬ TỨC Tuần - Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho đương số về vấn đề con cái như không có con, muộn có con, hoặc sinh con đầu lòng khó nuôi, hoặc con không hợp với cha mẹ… HUYNH ĐỆ Tuần - Triệt đóng tại cung Huynh Đệ thì anh chị trưởng nếu không đoản thọ thì cũng là người cùng khổ cô đơn, hoặc anh chị em không sống gần nhau, hoặc bất hòa, không giúp được nhau mà còn hại nhau... TẬT ÁCH Tuần - Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chặn đuôi thì đương số suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít gặp tai họa, nếu có tai hoạ cũng tránh được họa lớn... Trừ khi có sao kỵ Tuần - Triệt như Thiên Tướng, Tướng Quân thì nếu Đại vận xấu sẽ dễ đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng. PHỤ MẪU Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì chắc chắn đương số không hợp với cha hay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ do Hoặc cha mẹ mất sớm, hoặc cha mẹ ly hôn, hoặc làm con nuôi nhà khác... Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạn thiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽ còn Tuần thì sự ảnh hưởng hầu như không đáng kể. HẠN Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần phải xét kỹ về thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng, nhất là khi Tuần, Triệt đồng cung thì phải nhớ ảnh hưởng tăng gấp đôi và kéo dài hơn chứ không thể suy luận theo quan điểm là Tuần và Triệt tháo gỡ cho nhau trong trường hợp này. 3. ẢNH HƯỞNG CỦA TUẦN-TRIỆT TỚI CÁC SAO Theo lý thuyết của Tử Vi thì hai sao Tuần, Triệt sẽ làm thay đổi giá trị ảnh hưởng của các sao đồng cung mà Tuần, Triệt án ngữ. Nhưng cũng cần lưu ý rằng Tuần - Triệt không làm thay đổi tính chất các sao, mà chỉ làm tăng lên hoặc giảm đi ảnh hưởng của các sao. Thực chất Tuần - Triệt chỉ làm thay đổi cường độ hành khí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm của sao. Tuy nhiên cho dù sao hãm địa có được sáng lại do ảnh hưởng của Tuần - Triệt thì cũng không được toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một sao bị tối đi do ảnh hưởng của Tuần - Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chất là tối hãm. Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu vẫn là tranh cãi chưa có lời kết của các tác giả, các nhà nghiên cứu Tử Vi. Có quan điểm cho rằng Tuần, Triệt chỉ làm thay đổi sự sáng, tối của các sao đồng cung chứ không đủ sức ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu hoặc tam hợp chiếu, như thế là không tưởng, phi lý đại diện là tác giả Nguyễn Phát Lộc. Còn quan điểm thứ 2 đại diện là tác giả Việt Viêm Tử thì rộng hơn, cho rằng hai sao này còn ảnh hưởng tới cả các cung trong thế hợp chiếu và mức độ ảnh hưởng của Triệt-Tuần còn phụ thuộc vào tuổi Âm hay Dương của đương số. Quan điểm này không nhận được sự ủng hộ của một số tác giả, tiêu biểu là ông Nguyễn Phát Lộc nhưng lại nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu, “thầy Tử Vi”, chẳng hạn như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm Ông là nhà nghiên cứu, cũng là người hành nghề coi lá số Tử Vi nhận xét Triệt - Tuần là 2 sao đặc biệt trong hệ thống các sao của Tử Vi, nhưng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc Ảnh hưởng tới các cung khác ngoài cung án ngữ và cũng chịu ảnh hưởng lại của các sao, các cung mà Triệt - Tuần trấn thủ. Qua những tranh luận của các tác giả, và từ thực tiễn kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu về Tử Vi, đặc biệt là kinh nghiệm của những người hành nghề coi lá số Tử Vi.. thì Triệt - Tuần không những ảnh hưởng mạnh tới các sao ở 2 cung án ngữ mà còn ảnh hưởng tới các sao ở cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó chỉ có ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp như ở hai cung án ngữ. Cũng cần lưu ý thêm rằng Sao tại cung bị Tuần - Triệt án ngữ bị thay đổi tính chất nên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần - Triệt án ngữ. Vì thế khi luận giải phải gia giảm sự tốt, xấu của sao tùy theo sự án ngữ của Tuần hay Triệt và Triệt - Tuần ở thế đương đầu hay chặn đuôi. Sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới các tinh đẩu cũng không giống nhau. Thường thì các chính tinh bị ảnh hưởng mạnh hơn các phụ tinh khi gặp Tuần - Triệt, trong đó Sát - Phá - Liêm - Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất. Về tính chất thì hung sát bại tinh như Sát, Phá, Liêm, Tham, Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát..., tài tinh Vũ Khúc, Thiên Phủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc, quí tinh, quyền tinh Thiên Tướng, Hóa Quyền, Quốc Ấn..., đào hoa tinh hay dâm tinh Hồng, Đào, Riêu, Thai... bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh Quang Quí, Quan Phúc..., trợ tinh Tả Hữu...lục bại tinh Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư Xét về phương diện Ngũ hành thì nhìn chung hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặng nhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần vì Triệt Kim khắc Mộc trong khi đó Mộc sinh Tuần Hỏa và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt vì Tuần Hỏa khắc Kim trong khi đó Triệt Kim và Kim đồng hành, hành Thủy ít bị ảnh hưởng hơn vì Triệt Kim sinh Thủy và Thủy khắc Hỏa Tuần, hành Thổ bị ảnh hưởng ít nhất vì Tuần Hỏa sinh Thổ và Thổ sinh Kim Triệt. 4. NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT CỦA TUẦN-TRIỆT 1. Chính tinh hoặc hung tinh đắc địa tối kỵ gặp Tuần - Triệt vì gặp Tuần - Triệt làm cho các tinh đẩu bị giảm hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm địa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rất cần có Tuần Triệt án ngữ, chẳng hạn như cung Vô chính Diệu hoặc Chính Diệu tọa thủ lạc hãm, xấu xa, ví như trường hợp Liêm - Tham hãm địa tại Tỵ, Hợi nếu gặp Tuần - Triệt án ngữ lại trở nên tốt đẹp, trường hợp này còn được gọi là Phản vi kỳ cách hay Bộ Âm Duơng lạc hãm rất cần gặp Tuần, Triệt để trở thành sáng sủa, thông minh học giỏi. Trường hợp này nếu thêm Hóa Kỵ đắc địa đồng cung thì thật hoàn mỹ. Hoặc Cung gặp nhiều sát tinh hội chiếu nếu được Tuần - Triệt án ngữ sẽ trở thành yên ổn rất nhiều! 2. Chính tinh sáng sủa hợp Mệnh thì không nên gặp Tuần - Triệt vì sẽ đưa đến phá cách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần, Triệt thì càng xấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần, Triệt phá hỏng. Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần, Triệt cũng đỡ xấu hơn trường hợp trên. Chính tinh lạc hãm khắc Mệnh thì lại cần được Tuần - Triệt án ngữ, trường hợp này lại hay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần, Triệt. Nói chung là nếu càng xấu về vị trí bị hãm và tương quan Ngũ hành bị khắc thì gặp Tuần, Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan Ngũ hành thì gặp Tuần, Triệt càng xấu. 3. Thiên Tướng, Tướng Quân tối kỵ gặp Tuần, Triệt cho dù là đắc địa hay hãm địa. 4. Thiên Phủ kỵ gặp Tuần hơn gặp Triệt, vì gặp Tuần ví như kho trống không, trong khi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt. Thiên Khôi kỵ gặp Triệt hơn gặp Tuần nhưng cần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán sự tốt xấu của cung đó. 5. Bộ Cự Nhật ở Dần gặp Tuần, Triệt không sợ, vì bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần, Triệt, trong khi đó Cự Môn vượng lại rất cần gặp Tuần, Triệt để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng Tuần Triệt như sấm sét làm vỡ đá ra. Bộ Nhật Lương gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần, Triệt rất cần có Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần, Triệt. Bộ Ân Quang Thiên Quý đồng cung Sửu, Mùi chiếu về Mệnh hoặc thủ Mệnh thì Tuần, Triệt không còn tác dụng nữa, chỉ là sự cản trở nho nhỏ không đáng kể. 6. Tuần, Triệt đứng bất cứ đâu nếu bản Mệnh là hành kim thì không đáng ngại hành Hoả cũng đỡ hơn, nếu Triệt lâm Hỏa địa. Ví dụ mệnh gặp Thiên Tướng + Tuần Triệt án ngữ rất xấu xa mờ ám chủ tai nạn hình thương nhưng nếu bản Mệnh thuộc Kim thì không đáng ngại những nguy hiểm do Tuần, Triệt gây ra. 7. Tuần, Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng qua được. Triệt tại bản cung thì không sợ tai họa do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng yếu hơn. Mệnh Thân có Không, Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt - Tuần thì không sợ tai nguy. 8. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo dỡ ảnh hưởng của Tuần hay Triệt. Tuần, Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần, Triệt thì ảnh hưởng của Tuần, Triệt đồng cung sẽ giảm đi. Triệt tại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên, Tuần tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi. 5. NHỮNG CÂU PHÚ VỀ TUẦN - TRIỆT - Mệnh Triệt Thân Tuần, tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi. Có nghĩa Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân cũng ngộ Tuần thì không nên có chính diệu mới được xứng ý toại lòng, về già mới được an nhàn, sung sướng và tăng thêm tuổi thọ. - Mệnh Tuần Thân Triệt, hỷ đắc vân đoàn tương hội, phú quý văn tài cách phát trung niên. Có nghĩa Mệnh có Tuần án ngữ, Thân có Triệt trấn thủ, lại vô chính diệu, rất mừng gặp được văn tinh như Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, gặp như vậy là người có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn, phú quý. - Mệnh Tuần Thân Triệt, tối cần Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương miếu vượng, phú quý vinh hoa đến vãn niên. Có nghĩa Mệnh có Tuần, Thân có Triệt án ngữ, rất cần có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa, tốt đẹp hội họp thì cuộc đời mới được xứng ý toại lòng, nhất là khi về già mới được an nhàn, sung sướng. - Phúc vô chính diệu, tu cần Không tý, kỵ ngộ Triệt Tinh. Có nghĩa Cung Phúc đức vô chính diệu rất cần có sao Tuần án ngữ nhưng lại rất kỵ sao Triệt trấn đóng. - Phúc tại Tý cung. Đồng Âm Kiếp Tử, Triệt Tuần xâm, hữu học vô lương, tiện yểu cách. Có nghĩa Cung Phúc đức cư tại Tý, có các sao Đồng, Nguyệt, Kiếp, Tử gặp Tuần, Triệt thì đương số là người có học nhưng bất thành danh và là người bất chính, thường là người đa hư tiểu thực, nghèo hèn và chết non. - Thân cư Phúc vô chính diệu, tối kỵ Kiếp Dương Triệt Sát. Cái ngộ Đà Không thi vị cứu cánh chi tinh. Có nghĩa Cung Thân cư Phúc vô chính diệu mà gặp các sao Kiếp, Kình, Triệt, Sát thì rất lo ngại. Nhưng nếu gặp được Đà La, Tuần lại hay, ví như hai vị cứu khổ phò nguy, giải tỏa được các tai biến. - Tử Phủ đồng cung, Đế vô quyền sở, nan giải tai ương do như Tuần Không xâm nhập. Có nghĩa Tử Phủ lâm Mệnh tại Dần, Thân là 2 sao giải cứu được hung nguy khi đáo nhị hạn. Nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như 2 ông vua bị mất hết quyền hành nên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ sát tinh, cũng như trường hợp Tử Vi đóng ở cung Tý vậy. - Sát tinh hung diệu, Triệt đầu cư lai bất cập a hành, nan phùng tai ách vận lai. Có nghĩa Cung Mệnh dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nhưng nếu được Triệt án ngữ tại bản cung cũng không e sợ lũ sát tinh hoành hành vì sao Triệt đủ ảnh hưởng khắc chế được mọi hung nguy. - Thân cư Thê vị, Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình. Nhược gia cát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân. Có nghĩa Thân cư Thê mà bị Tuần, Triệt xâm phạm tất là người tuổi thiếu niên bị tình phụ mà nước mắt buồn rơi khi nhớ tới người xưa. Nếu gia hội cát tinh cũng được mãn kiếp xum vầy với người góa phụ. - Kiếp Kình Đế Cự suy Triệt lâm Mệnh, Tý hương, ác nhân đãng tử mãn kiếp nan toàn. Có nghĩa Cung Mệnh an tại Tý, 2 sao Tử Vi hay Cự Môn nếu hội với các sao Kiếp, Kình, Suy, Triệt là người phải chết bởi tai nạn nhưng khi chết rồi thể xác vẫn phải bị mổ xẻ. - Thân cư Quan, kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu. Có nghĩa Nam nhân có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, tất phải lận đận, bôn ba thủa thiếu thời vì không gặp thời cơ. Nếu như được cát tinh củng chiếu, cũng phải đợi tới vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạo thành cơ nghiệp. - Phản Hữu Hồng Loan sắc Không giác ngộ. Có nghĩa Thiên tướng nếu hội họp đầy đủ với 2 loại sao là sắc Đào, Hồng, Hỷ và Không Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không là người ví như kẻ lạc giữa bụi trần nhơ nhuốc mà tâm tư trong sáng, thường có duyên với cảnh tu hành. - Quý tinh Tướng Phủ Tuần Triệt lao đao. Có nghĩa Thiên Phủ, Thiên Tướng là quý tinh, cư Mệnh rất đẹp, nếu độc thủ cũng không đáng lo ngại lắm khi gặp lũ Kình, Đà, Hỏa, Linh vì tính dung hòa của 2 quý tinh này. Nhưng nếu Phủ, Tướng ở cung âm, gặp Tuần, Triệt Thiên Không, Địa Không cũng vậy thì cách đẹp bị phá hết, thành kẻ lao đao, lận đận giữa đời. - Thân cư Quan Lộc hội sát diệu Triệt Tuần, nữ Mệnh nan bảo thân danh. Gia kiến Tang Bạch cô thân chi nhảnh, chi gia vãn tuế tất thành. Có nghĩa Nữ nhân Thân cư Quan Loock, ngộ Triệt, Tuần và sát tinh là người khó bảo toàn được danh tiết. Nếu lại gặp 2 sao Tang Môn, Bách Hổ tất bị phòng loan gối chiếc, phải đến tuổi xế chiều mới thành được gia thất. - Nhật, Nguyệt Sửu Mùi tối cần Kỵ, Không phả vi đại cát. Có nghĩa Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được Không Vong Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêm cả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách. - Thân hội Di cung, Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương cát. Nhược hữu kiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ư ngoại xứ. Có nghĩa Người có Thân cư cung Thiên Di gặp Tuần, Triệt hãm địa, tất phải tha hương lập nghiệp cho tới khi tuổi già mới được về quê và hưởng phúc lộc dồi dào. Nhưng nếu Di cung lại bị sát tinh củng chiếu thì chỉ có thể thành cơ nghiệp nơi đất khách quê người. - Thìn Tuất Không Vong Cơ Lương tăng đạo. Có nghĩa Cơ Lương ở Thìn Tuất là rất đẹp nhưng nếu Mệnh ở đấy mà gặp một trong các sao Không Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không thì lại là người thất chí, dễ chán đời đi tu. - Nhật Nguyệt Tật Ách Mệnh phùng Không yểu dà mục cổ. Có nghĩa Mệnh hoặc cung Tật Ách có Nhật, Nguyệt gặp Không Vong Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không, tất phải mang tật lưng vẹo, mắt hư. 6. TUẦN - TRIỆT VÀ NHỮNG DẤU HỎI Khi coi số, người luận giải sợ nhất trường hợp các cung cường gặp Tuần, Triệt án ngữ bởi lẽ lý thuyết Tử Vi về Tuần, Triệt còn nhiều mơ hồ, chưa có sự thống nhất thậm chí còn nhiều nghi vấn, nhiều tranh cãi gay gắt… để làm căn cứ cho việc xem số nên lời luận giải đưa ra thường thiếu cơ sở để khẳng định. Vì thế, người học Tử Vi, người muốn tìm hiểu về Tử Vi đều bất lực trong nhiều trường hợp khi gặp Tuần, Triệt án ngữ, quy tụ lại bởi một số nghi vấn sau 1. Tuần, Triệt ảnh hưởng tới các sao như thế nào? Theo lý thuyết thì Tuần, Triệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung Biến tốt thành kém tốt, biến xấu thành bớt xấu nhưng thực tế thì có những trường hợp chỉ chính tinh bị ảnh hưởng còn phụ tinh lại không bị tác động bởi Tuần, Triệt hoặc phụ tinh bị đảo nghĩa khi gặp Tuần, Triệt trong khi chính tinh lại không thay đổi về cường độ, hoặc chỉ một số tinh đẩu bị đảo nghĩa chứ không hẳn tất cả các tinh đẩu đồng cung đều chịu sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt... Để trả lời cho câu hỏi này, chưa có sách Tử Vi nào đề cập đến nên sự luận giải đôi khi trở nên mơ hồ, võ đoán. Đấy là nói về các sao đồng cung, còn những sao ở tam hợp chiếu, xung chiếu thì sao? Về vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất hoặc quan điểm vẫn còn mơ hồ, không cụ thể. Quan điểm thứ nhất cho rằng Tuần, Triệt chỉ ảnh hưởng tới các sao đồng cung chứ không đủ sức để ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Quan điểm thứ hai cho rằng Tuần, Triệt không những ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung mà còn ảnh hưởng gián tiếp tới các sao ở các cung khác như xung chiếu, tam hợp chiếu... nhưng lại không chỉ ra sự ảnh hưởng gián tiếp ấy cụ thể như thế nào? Và đây cũng là điểm mơ hồ cố hữu trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi. 2. Tuần, Triệt có chịu sự khắc chế, ảnh hưởng của các sao khác không? Lý thuyết Tử Vi không đề cập đến sự ảnh hưởng hay khắc chế của các sao khác tới cường độ của Tuần, Triệt như thế nào nên vô hình chung đã đẩy Tuần, Triệt lên vị trí tối quan trọng, cao hơn tất cả các tinh đẩu trong hệ thống các sao của Tử Vi, khiến người coi số như xuống biển mò kim mà trở nên lúng túng, bế tắc khi đưa ra lời luận giải. Trong thực tế, không phải mọi tinh đẩu đều chịu ảnh hưởng của Tuần, Triệt như nhau Có sao chịu ảnh hưởng nhiều, có sao chịu ảnh hưởng ít và thậm chí có sao không hề bị ảnh hưởng ... Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt đó? Phải chăng do Tuần, Triệt cũng chịu ảnh hưởng của các tinh đẩu khác mà sức ảnh hưởng của Tuần, Triệt mới không đồng đều, không đủ mạnh? Sách Tử Vi không đưa ra lời giải đáp khiến người coi số bị hụt hững, phân vân vì thiếu cơ sở lý thuyết nên dễ đưa ra những lời luận giải rơi vào ngộ nhận, không chính xác. Một số nhà nghiên cứu Tử Vi, hoặc những người coi số Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt cũng chịu sự ảnh hưởng, tác động của các sao khác như những sao khác nhưng không chỉ ra được Tuần, Triệt chịu ảnh hưởng từ các sao khác như thế nào? Những sao nào sẽ vô hại khi gặp Tuần, Triệt, thậm chí còn tác động, làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt? Đây chính là nghi vấn, dễ gây ra sự ngộ nhận khi luận giải lá số. 3. Tuần, Triệt có làm thay đổi được cung an Mệnh khi ở thế bại địa, tuyệt địa? Chúng ta đều biết lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt làm thay đổi cường độ ảnh hưởng của các sao chứ không làm thay đổi tính chất của các sao, có nghĩa một sao thể hiện sự gian tà, độc ác thì khi gặp Triệt, Tuần sẽ vẫn là kẻ gian tà, độc ác nhưng ở mức độ thấp hơn, nhẹ đi chứ không thể trở thành người nhân hậu, bác ái. Hay một cát tinh khi hãm địa được Tuần, Triệt án ngữ cũng chỉ làm cho cát tinh đó tốt hơn lên chứ không thể biến cát tinh hãm địa đó đẹp bằng cát tinh khi đắc địa được. Chúng ta cũng biết lý thuyết Tử Vi chỉ rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở cho cung Tuần, Triệt án ngữ chứ không thể làm thay đổi tính chất ngũ hành của cung, càng không làm thay đổi bản chất của cung Sinh - khắc hay bình hoà với hành bản Mệnh Thân? Phù trợ như thế nào cho Mệnh Thân?... Nhưng khi coi số, nếu gặp trường hợp cung an Mệnh ở vào thế lợi địa, tuyệt địa…mà gặp Tuần, Triệt án ngữ ở đó thì luận giải sao đây? Không thể đưa ra lời khẳng định nếu cung an Mệnh ở thế lợi địa mà gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở thành bại địa, hoặc cung an Mệnh ở thế bại địa khi gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trở nên vượng địa vì thực tế ngay cả các sao đồng cung Tuần, Triệt còn không đủ sức ảnh hưởng đồng đều thì làm sao ảnh hưởng, thay đổi tính chất lợi địa hay tuyệt địa của cung an Mệnh được. Hơn nữa, lý thuyết của Tử Vi về Tuần, Triệt cho rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở một phần, một giai đoạn cho cung án ngữ nên càng khó đưa ra lời luận giải cho những trường hợp như thế này. Đây chính là khó khăn và thách đố với những ai muốn tìm hiểu, ứng dụng kiến thức của Tử Vi vào cuộc sống. 4. Thời gian và cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào? Mặc dù lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần ảnh hưởng nhẹ hơn Triệt và mạnh dần ảnh hưởng sau 30 tuổi, còn Triệt ảnh hưởng mạnh những năm đầu đời và giảm dần hiệu lực sau 30 tuổi. Nhưng Tử Vi không chỉ ra sự mạnh dần Tuần hay giảm dần Triệt diến ra như thế nào? Cường độ nặng nhẹ là bao? Nên người coi số rất khó đưa ra lời phán đoán. Hơn nữa, những khái niệm về cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt tưởng như rất cụ thể mà lại rất mơ hồ, trừu tượng nên người coi số thật khó luận giải. Chẳng hạn, sách Tử Vi nói Người Dương nam, Dương nữ khi gặp Tuần, Triệt thì ở cung Dương sẽ chịu 70%, còn cung Âm chịu 30% cường độ, nhưng 100% cường độ được thể hiện như thế nào? Ảnh hưởng ra làm sao? Để qua đó hiểu được mức nặng nhẹ của 70% hoặc 30% cường độ thì rất tiếc không thấy sách Tử Vi nào đề cập đến. Hoặc bàn về sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới số phận con người cũng nhiều ý kiến trái chiều, bất nhất. Ví dụ ở người Mệnh Kim, có 3 quan điểm - Quan điểm 1 Mệnh Kim không sợ Tuần, Triệt. - Quan điểm 2 Mệnh Kim vô hại khi gặp Triệt, còn gặp Tuần thì vẫn bị ảnh hưởng như các tuổi khác, tuy nhiên cũng không đáng lo ngại lắm. - Quan điểm 3 Mệnh Kim nên tránh xa Tuần, Triệt vì nếu gặp sẽ thiệt thòi nặng hơn so với các tuổi khác. Trong 3 quan điểm trên thì phần lớn những người coi số Tử Vi đồng nhất với quan điểm thứ nhất Mệnh Kim không sợ gặp Tuần, Triệt nhưng sự bất nhất về lý thuyết, đặc biệt khi sự bất nhất đó lại có nội dung đối lập 100% như quan điểm 3 với quan điểm 1, thì vẫn gây khó khăn, nghi vấn cho người luận giải lá số. 5. Vấn đề Tuần, Triệt đồng cung thì thế nào? Đây cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi trong lý thuyết của khoa Tử Vi. Quan điểm thứ nhất cho rằng Tuần, Triệt đồng cung không tháo gỡ nhau mà cộng hưởng cả mặt tốt, mặt xấu và ảnh hưởng sâu rộng hơn tới cuộc đời của đương số. Quan điểm thứ hai lại cho Tuần, Triệt tháo gỡ nhau nếu khi đồng cung, làm giảm cái xấu và tăng cái tốt cho đương số. Mặc dù quan điểm thứ nhất là quan điểm của số đông, được nhiều người chấp nhận vì tính thực tiễn nhưng sự không đồng nhất về quan điểm như thế trong hệ thống lý thuyết của Tử Vi sẽ gây khó khăn rất lớn cho người tiếp cận. LỜI KẾT Tuần - Triệt là hai sao còn rất nhiều nghi vấn về giá trị, phạm vi và mức độ ảnh hưởng tới số phận con người mà người nghiên cứu Tử Vi khó tìm được câu trả lời thỏa đáng, càng đặc biệt và thách đố với những người muốn ứng dụng kiến thức Tử Vi vào cuộc sống. Khi biên soạn về ảnh hưởng của Tuần - Triệt tới lá số cung, sao, người viết rất băn khoăn, lo lắng vì kiến thức và kinh nghiệm về Tử Vi của người viết chỉ ở mức mày mò tự học trong khi môn học Tử Vi đòi hỏi người tiếp cận phải có kiến thức uyên bác về Dịch lý, về Âm - Dương Ngũ hành... mới có thể truyền tải được những cốt lõi mà linh hoạt và thỏa đáng về hiệu lực của Tuần, Triệt nên những kiến giải của người viết trong bài sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, chủ quan và nông cạn, khiến những bậc cao minh sẽ cau mày vì phải đọc những kiến giải “ngây ngô” của kẻ “ếch ngồi đáy giếng”... Dù thế nào thì người viết vẫn hy vọng bằng những cố gắng của mình sẽ giúp ích ít nhiều cho những ai lần đầu làm quen và tiếp cận với kiến thức mênh mông mà tinh tế, linh hoạt đến phức tạp... của khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và thời gian tìm hiểu. Nếu được vậy, người viết mãn nguyện lắm rồi. trích trong cuốn TỬ VI kiến giải – Tác giả Đặng Xuân Xuyến Hà Nội Dẫn theo trang

cách an sao tuần triệt